Trang chủ Giới thiệu Tuyển dụng Liên hệ - Góp ý
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện hình ảnh
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Liên hệ - Góp ý
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 
 

Liên kết Website
Tự học của những người yêu nước trong nhà tù Côn Đảo
Nhà tù Côn Đảo (1862 - 1975) được đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế biết đến là một nhà tù lớn nhất trong các nhà tù ở nước ta, nơi tập trung điển hình chính sách đàn áp tù chính trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, cũng là nơi tập trung điển hình những phẩm chất anh hùng, bất khuất, đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân cách Việt Nam, của khí tiết cộng sản.

Kể từ khi nước nhà hoàn toàn giải phóng cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Nhà tù Côn Đảo được công bố rộng rãi bằng nhiều hình thức ở cả trong và ngoài nước (sách, báo, tạp chí, phim ảnh, trưng bày bảo tàng…). Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ quy mô to lớn của nhà tù, những chính sách hiểm độc, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc và cuộc đấu tranh “rung động trăng sao” của “khí tiết cộng sản” chống lại “cường quyền và những mưu ma chước quỷ” của kẻ thù.
Một trong hoạt động nổi bật của các chiến sĩ cộng sản, những người yêu nước trong nhà tù Côn Đảo được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến đó là việc tự học. Với lý tưởng cách mạng, với niền tin tất thắng chiến thắng, những người yêu nước đã vượt qua muôn vàn gian khó để biến nhà tù Côn Đảo thành “đại học đường”.
Việc tự học ở Nhà tù Côn Đảo được khởi xướng từ rất sớm. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, khi một thế hệ mới của cách mạng Việt Nam hình thành và làm nên những cuộc vận động Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, nhiều người trong đó bị Pháp bắt kết án, phát phối ra Côn Đảo như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Thành, Dương Thạc, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, Lê Đại, Nguyễn Văn Ngôn, Nguyễn Đình Quản, Nguyễn Quyền…, tức là những nhà yêu nước bị đày ra Côn Đảo,  đã cũng nhau học tập để tu dưỡng và rèn luyện tinh thần, củng cố ý chí cách mạng. Việc học tập của các chí sĩ yêu nước trong thời gian này cũng khá phong phú như học sáng tác thơ văn, học tiếng Pháp… Phong trào học tập, sáng tác thơ văn của các chí sĩ đã làm nên một “thi đàn Côn Đảo” còn vang vọng mãi đến ngày nay với những tập thơ nổi tiếng như Thi tù tùng thoại (Huỳnh Thúc Kháng, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1958), Thi văn quốc cấm thời Pháp (NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1968). Đặc biệt là tấm gương học chữ Pháp của Huỳnh Thúc Kháng là minh chứng điển hình về việc tự học trong tù của các chí sĩ yêu nước. Nhiều sách, báo ngày này còn ghi lại câu chuyện trong 13 năm tù ở Côn Đảo, Huỳnh Thúc Kháng, đã giao tiếp với các quan cai trị người Pháp không khác gì một người đã học hết trường Thành chung. Thông thường, để giao dịch với người Pháp, người ta cần biết được khoảng 3000 từ Pháp, để đọc được báo người ta cần khoảng 4000 từ, để đọc được truyện phải cần một vốn từ khoảng 6000 -7000 từ Pháp. Chuyện cũng kể là chỉ cần ai đó yêu cầu cụ giải nghĩa một từ Pháp là cụ giải nghĩa ngay như trong từ điển đã viết, chữ ấy có bao nhiêu nghĩa, cụ cũng nói tất cả quyển Larousse! Rất nhiều học sinh sinh viên học trong các trường Pháp - Việt ngày xưa đều rất khâm phục quyết tâm và trí nhớ của cụ. Không chỉ học từng từ, vì nếu chỉ học từng từ thì chỉ có thể nói được thứ ''tiếng Tây bồi'', cụ đã tự học ngữ Pháp tiếng Pháp trong các sách báo tiếng Pháp.
Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, phong trào đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo lan rộng trong cả nước. Những lớp Đảng viên cộng sản bị đày ra Côn Đảo ngày càng đông và nhiều người được gặp gỡ một số sĩ phu, chí sĩ yêu nước thuộc các phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Kháng thuế ở Trung Kỳ, của Tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng… Nhà tù Côn Đảo trở thành nơi “hội tụ” của những người yêu nước và cách mạng sau mỗi lần thực dân Pháp khủng bố và đàn áp.
Tiếp thu truyền thống hiếu học của dân tộc, đồng thời trung thành với khẩu hiệu của Lênin “học, học nữa, học mãi”, ngay từ năm 1931, lớp học chủ nghĩa Mác Lênin đã được các tù chính trị tổ chức tại Banh I. Các đồng chí Nguyễn Hới, Tôn Đức Thắng, Tống Văn Chân… đã huấn luyện anh em tù chính trị những vấn đề về tổ chức Đảng, Công hội đỏ, Nông hội đỏ, đoàn thanh niên phản đế. Cuối năm 1933, khi đồng chí Ngô Gia Tự bị địch đày ra Côn Đảo và được đưa về Banh I đã tổ chức cho anh em học tập những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa cộng sản, đặc điểm gia cấp trong xã hội Việt Nam và đường lối, phương pháp lãnh  đạo của Đảng ta. Cùng với những bài giảng ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, đồng chí Ngô Gia Tư còn động viên anh em “phải tranh thủ thời gian để học tập; bất cứ ở đâu chúng ta cũng hoạt động cho chủ nghĩa cộng sản được”. Để có thể học tập trong điều kiện ngặt nghèo của nhà tù, các đồng chí ở Hội tù nhân đã bí mật đưa đèn dầu vào cất giấu trong khám, cùng một số tờ báo như Ý kiến chung, Người tù đỏ để làm tài liệu học tập. Việc học tập thường diễn ra lúc đêm khuya, khi các khám tù đã ngủ yên, bọn gác ngục ít đi lại. Anh em đưa đèn dầu và tài liệu từ các kho bí mật lên chụm đầu vào cùng đọc, viết. Một số đồng chí có trình độ thì giảng giải về nội dung tác phẩm Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản và huấn luyện nghệ thuật nói chuyện trước công chúng cho các đồng chí của mình.
Từ năm 1935, do được nới lòng phần nào về làm khổ sai, chi bộ nhà tù Côn Đảo đã quyết định vừa tổ chức học tập lý luận một cách có hệ thống vừa kết hợp với học văn hóa. Các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Bùi Công Trừng giúp anh em học tập lý luận. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hà Huy Giáp Nguyễn Kim Cương giúp anh em học tập văn hóa. Trong học tập lý luận, chương trình huấn luyện gồm có: tình hình thế giới, duy vật sử quan, Chủ nghĩa Mác Lênin sơ giản, lịch sử cách mạng tháng Mười, tình hình chuyển biến cách mạng trong nước, công tác quần chúng… Đặc biệt ở Banh I, đồng chí Trần Văn Gàu được chỉ định làm giảng viên lý luận. Một số bài học “nằm lòng” được tiếp thu từ trường Đại học Phương Đông đã được các đồng chí nghiên cứu và truyền đạt lại cho anh em. Những bài học được chú trọng nhất ở Banh I gồm: Lý luận Mác Lênin về cách mạng vô sản, Chuyên chính vô sản, Đảng Leninit của giai cấp vô sản, Chiến lược và chiến thuật, Vấn đề nông dân, Vấn đề dân tộc và thuộc địa, Vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Chiến tranh và cách mạng.
Về lý luận, lớp học trong tù được tổ chức theo phương pháp “dân chủ”: mỗi vấn đề có một người thuyết trình chung, rồi anh em thảo luận; mỗi người phát biểu bổ sung về hiểu biết của mình. Người thuyết trình thường trình bày bài học do mình soạn ra theo chí nhớ, học viên tập trung nghe và ghi nhớ. Các đề mục của bài học được viết trên nền khám bằng than, mẩu gạch vỡ. Sau khi nghiên cứu, trao đổi nội dung bài học, ai có vấn đề chưa hiểu thì trình bày để những người đã hiểu giải đáp. Đến buổi thứ ba thì tất cả cùng thảo luận. sau cùng, “giảng viên” tóm  tắt bài học bằng cách phê phán những ý sai, đề cao ý đúng, nhấn mạnh những vấn đề cơ bản nhất và liên hệ lý luận với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Việc nghiên cứu, học tập lý luận rất sôi nổi, lôi cuốn nhiều thành phần tù nhân tham gia như ở Banh I, một số tù chính trị thuộc tổ chức Việt Nam quốc dân đảng cũng xin dự nghe các bài giảng về chủ nghĩa Lê nin. Chi bộ Nhà tù còn thảo luận nhiều lần với đại diện tù Quốc dân đảng về việc liên hiệp đấu tranh trong tù.
Về văn hóa, chương trình tự học trong nhà tù gồm có các môn học phổ thông, nhất là lịch sử, địa dự thế giới, kinh tế học, một ít kiến thức về khoa học tự nhiên và ngoại ngữ - chủ yếu là tiếng Pháp. Đối tượng học văn hóa rất đa dạng, có cả tù thường phạm và chính trị phạm. Tùy theo các đối tượng mà cách dạy, cách học có biến tấu khác nhau nhằm gây hứng thú và động viên tính tích cực của người học. Phần lớn các chính trị phạm đã trở thành “thầy giáo” dạy văn hóa cho các thường phạm và những người khác. Câu chuyện về đồng chí Phạm Hùng trong những năm ở Côn Đảo vừa tự học văn hóa, vừa dạy chữ cho các thường phạm là một ví dụ sinh động trong phong trào tự học ở Nhà tù Côn Đảo.
Từ khi cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, địch kiểm soát tù nhân ngày càng chặt chẽ. Cuộc đấu tranh chống khủng bố ở Nhà tù Côn Đảo bước vào giai đoạn hết sức khó khăn nhưng các học vẫn được tổ chức dưới nhiều hình thức. Có lớp được tổ chức bằng cách sinh hoạt giải thích các khái niệm lý luận như: giai cấp, giai cấp vô sản, đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, vấn đề dân tộc, chủ nghĩa xã hội  và chủ nghĩa cộng sản. Song song với việc học về lý luận, nhiều lớp tiếp tục dạy và học các môn văn hóa, ngoại ngữ, phân ti1chg và bình luận các tác phẩm văn học nổi tiếng cả trong nước và thế giới.
Việc học tập lý luận và văn hóa được phân chia theo giờ giấc cụ thể. Ở khám tù cấm cố, buổi sáng học các bài lý luận chính trị, buổi chiều học văn hóa. Việc học tập được ứng dụng vào thực tế bằng cách tổ chức các hình thức sinh hoạt diễn kịch, ngâm thơ, bình luận các tác phẩm văn học nổi tiếng như Truyện Kiều (của Nguyễn Du), Người mẹ (Maxim Goorky), Tam quốc chí (La Quán Trung).. Cá buổi học và sinh hoạt lúc nào cũng thu hút cả tù chính trị phạm lẫn thường phạm tham gia. Có người ham học đến mức bệnh nặng vẫn không rời quyển sách với tâm niệm: có chết làm ma biết chữ vẫn hơn như một nữ tù nhân tâm sự: Lao là trường học, / Sách ấy con thơ … chồng.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Tháng 4/1946, Pháp chiếm lại Côn Đảo. Những năm 1946 – 1948, thực dân Pháp liên tục đưa hàng ngàn chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lưu đày ra Côn Đảo. Trong cuộc đấu tranh ở nhà tù gian đạon này, việc học tập nổi lên rất tích cực và trở thành điểm sáng trong hoạt động đấu tranh của tù nhân. Điển hình là phong trào bình dân học vụ trong những năm 1947 – 1948. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xóa nạn mù chữ, tù nhân Côn Đảo tổ chức phong trào bình dân học vụ ở tất cả các khám. Người học bao gồm cả chính trị phạm lẫn thường phạm, trong đó lần lớn là những chiến sĩ xuất thân từ nông dân, dân nghèo thành thị, phu phen thất học mới tham gia kháng chiến thì bị địch bắt. Người dạy phần đông là những người có tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ trước đây như: Trần Nhật Quang, Phạm Gia, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Đống, Nguyễn Văn Mẹo, Trần Văn Sử, Nguyễn Văn Giỏi, Nguyễn Sáng, Lưu Văn Lê, Võ Văn Nguyệt… Trần Nhật Quang bị địch tra tấn làm mù một con mắt vẫn cặm cụi thức khuy chép những bài tập đánh vần cho anh em trong khám.
Để tù chức đồng loạt ở các khám, Ban Chấp hành tù nhân đã cửa ra ở mỗi khám một ủy viên phụ trách bình dân học vụ để hướng dẫn và tổ chức việc xóa mù chữ. Phương pháp i-tờ do Hội Truyền bá chữ quốc ngữ đề xướng trước đây được vận dụng cho tù nhân học tập. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn (khoảng 3 tháng), nhiều tù nhân chưa biết chữ đã có thể viết được. Tuy điều kiện khổ sai nhưng tù nhân vẫn dành thời gian học tập thích hợp. Các khám ở An Hải, Sở Củi, Lò Vôi thường học buổi trưa, Nhà Bếp, Sở Chỉ tồn, Sở Bản chế học buổi tối. Những người mang an tử hình bị địch còng chân thì bố trí người ngồi ở giữa dạy hai người bên cạnh. Mỗi khi đến phiên đổi còng thì “thầy” và “trò” lại đổi vai cho nhau. Nhiều câu chuyện cảm động về phong trào bình dân học vụ ở nhà tù Côn Đảo đã được ghi lại như câu chuyện tên gác ngục Saden có lần nhìn thấy tù nhân khám tử hình học văn hóa đã giễu cợt: các anh sắp chết rồi còn học làm gì? Từ tù Nguyễn Đình Chính trả lời: Nếu không chết thì sã thành người có ích. Còn nếu chết thì tôi cũng phải chết có văn hóa.
Để cổ vũ cho phong trào bình dân học vụ, Hội tù nhân đã tổ chức các hoạt động văn nghệ với những tiết mục do anh em tự dàn dựng như tù Sở Củi có đêm văn nghệ với ca cảnh Xóa nạn mù chữ, cổ động phong trào bằng những lời ca sinh động. Có đêm văn nghệ, anh em rù tổ chức dàn dựng màn đồng ca Đời sống mới và nhạc cảnh Bảo vệ thóc vàng thiết thực hướng về các hoạt động của cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của đất nước lúc đó. Nhiều tù nhân vì tham gia các hoạt động bình dân học vụ mà bị địch tra tấn dã man với tội “gây mất trật tự”. Phong trào bình dân học vụ trong nhà tù đã góp phần rất lớn động viên các chiến sĩ cách mạng nung nấu ngày trở về tham gia cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện đang diễn ra sôi nổi từng ngày.
Sau năm 1954, nước ta tiếp tục bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc hòa bình đi lên chủ nghĩa xã hội còn ở miền Nam, đế quốc Mỹ và tay sai dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, chia cắt lâu dài đất nước. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai trong 21 năm ở miền Nam (1954 – 1975), hàng vạn đảng viên, chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước ở miền Nam bị chính quyền Mỹ - ngụy đày ra Côn Đảo. Nhà tù Côn Đảo thời Pháp đã là địa ngục trần gian nhưng đến thời kỳ Mỹ ngụy, sự tàn ác còn hơn gấp nhiều lần, tù nhân Côn Đảo bị hành hạ một cách tàn ác, nơi đây được ví như địa ngục trong địa ngục.
Trong hoàn cảnh bị hành hạ cực hình ấy, việc học tập của tù nhân trở thành một mặt trận đấu tranh chống lại sự đàn áp của kẻ thù. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận, một tử tù ở Côn Đảo đã ghi lại khung cảnh học tập trong xà lim: từ 5 giờ sáng, anh em thức dậy, từng cụm chia nhau hút thuốc lào rồi lục tục mỗi người  một cục giẻ, một mảnh sành… lên lợp văn hóa. Mảnh sành làm bút gạch xuống sàn xi măng. Cục giẻ làm khăn lau, viết xong lại xóa. Cái “bút sành” của anh em có tên gọi là Pắc-ke. Hễ một chiếc bát của ai vỡ trong khám lại reo lên “A! Pắc-ke”, rồi mỗi người nhặt một mảnh cất giấu thật kỹ. Trong mỗi cái túi cơ nghiệp của người tù không thể thiếu cây Pắc-ke như vậy. Việc học đã trở thành một yêu cầu mảnh liệt của anh em tù. Đây là lớp toán, kia là lớp văn, góc này lớp địa lý, góc nọ lớp sử. Học cả điện, học cả máy nổ, chụp ảnh và lái xe hơi. Vẽ máy ảnh lên sàn nhà, giảng từng bộ phận của máy đến cách lấy ánh sáng, bấm ảnh. Lớp dạy lái xe hơi có rất đông anh em học. Những người tù lợi răng bị lở loét đến chảy máu vẫn chăm chỉ theo học các bài giảng về lái xe hơi, luật đi đường: thế nào là biển chỉ đường cấm, thế nào là biển chỉ đường “cua”, muốn xin đường, muốn lui xe thì phải làm sao. Học cả âm nhạc nữa. Đàn thì anh em tự làm lấy bằng ống bơ.
Những buổi học rất hấp dẫn, say sưa mà trật tự. Người bảo vệ luôn ghé mắt ỡ lỗ kho1aq, nếu thấy bóng chúng nó thì lập tức ra ám hiệu. Và chỉ trong nháy máy, các bài giảng, bài tập viết trên sàn vụt biến mất.
Một tử tù khác (Đỗ Hùng Luân) cũng ghi lại quá trình học tập của mình trong khám tù như sau:
Tôi tìm sách Toán lớp 11 để tự học, ngoài ra học tiếng Pháp trong cuốn “Cours de langue et de civilisation Francaise” (ngôn ngữ và văn minh Pháp) của Thạc sĩ Mauret (tôi đang học ở trường ngày ấy). Ngoài thì giờ tự học, tôi học nhiều bài thơ cách mạng, nhất là thơ Tố Hữu do bạn tù khác thuộc lòng dạy lại. Cách học là bạn tù đó đọc trước mấy câu, tôi đọc lại nhiều lần để thuộc, cứ thế cho đến khi thuộc hết cả bài. Có bài thơ dài phải học nhiều đêm. Tôi cũng thích văn chương nên cố học thuộc lòng mỗi ngày 12 câu Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và hoàn tất 3.254 câu sau 8 tháng. Anh chị em tù chính trị phổ biến những bài gì cho nhau thì thường phải học thuộc lòng. Bởi không dễ gì viết được, mà nếu có trường hợp bí mật viết được ra giấy hoặc giấy tờ gì từ đường dây bên ngoài bí mật chuyển vào, cũng phải học thuộc lòng để thủ tiêu ngay, nhằm đề phòng nguy hiểm khi bọn trật tự lục xét. Chẳng hạn, vào đầu năm 1970, lá thư Trung ương Cục miền Nam gửi cho anh chị em tù các Nhà lao có đoạn: “...Đấu tranh phải có lý, đúng mức, đề phòng xốc nổi nhất thời” – tôi học thuộc lòng để phổ biến lại cho người khác, đây là phương án tối ưu nhất trong nhà tù khắc nghiệt của địch.
Sau giờ khổ sai ở nhà bếp về phòng giam, cửa song sắt khóa lại, tên trật tự canh gác ngồi sát bên ngoài nhìn vào phòng. Bên trong là tên trưởng phòng (tù thường án hoặc quân phạm). Nhà lao Côn Đảo cấm tù nhân không được ngồi nói chuyện với nhau từ 3 người trở lên, cấm dùng giấy bút viết bất cứ cái gì... Tôi tự học môn hình học không gian bằng cách coi sách giáo khoa tự nghiên cứu để hiểu, nhưng cần phải làm bài tập thì mới hiểu thấu đáo. Muốn làm bài tập phải vẽ ra giấy, nhưng giấy bút không có thì làm sao? Tôi tìm cách nhặt vỏ bao thuốc lá Bastoz của cai tù và trật tự đã vất bỏ, gở ra dùng mặt giấy trắng bên trong và tìm được một đoạn ruột bút chì, lấy giấy quấn làm cán bút để vẽ hình bài toán. Cái khó tiếp theo là làm sao vẽ được lên giấy mà bọn chúng không nhìn thấy? Để tránh cặp mắt của tên trật tự và trưởng phòng giam, tôi nằm ở góc khuất, xa chỗ chúng để lén vẽ. Có lúc không làm được như thế, tôi bèn trùm chăn kín đầu như nằm ngủ để vẽ hình chứng minh. Thuở đó đang ở tuổi thanh niên, cặp mắt còn sáng tỏ, nên dù trùm chăn, trong khi phòng giam thiếu ánh sáng, mà tôi cũng nhìn thấy được! Khi ấy cặp mắt phải điều tiết nhiều, rất dễ hại mắt! Bây giờ nhớ lại chính tôi cũng đã thấy ghê sợ!
Có những bài quá khó không dễ gì chứng minh, tôi nhớ đầu đề để ban ngày khi đi bổ củi, lúc đến phiên ngồi nghỉ, tôi dùng que tăm gỗ vẽ lại hình bài toán lên bắp da đùi tôi (da khô do ăn uống thiếu chất nên vẽ hình trông vẫn rõ) rồi nhìn vào đó tiếp tục suy nghĩ chứng minh. Tên trật tự coi làm khổ sai không thể biết gì vì chỉ thấy tôi ngồi đó, không giấy bút, nên chỉ hiểu là tôi đang ngồi nghỉ. Cứ vậy mà thời gian ở nhà bếp, tất cả bài tập ở mỗi chương, tôi đều chứng minh đến hết và tôi đã hoàn tất chương trình toán Hình học, Đại số và Lượng giác lớp 11 một cách nhuần nhuyễn.
Bỗng một ngày chúng đưa tôi đến phòng “chuyên môn” để đánh đập rồi còng chân, nhốt hầm đá 1 tuần, xong chuyển qua làm “Chỉ Tồn” ở trại 2 vì có kẻ xấu, mật báo cho chúng là tôi cổ vũ anh em trong phòng giam đấu tranh. Làm “Chỉ Tồn” (là làm khổ sai nhiều việc không cố định một việc gì). Lúc này tôi không còn học được nữa. Sau mấy tháng ở đây, chúng lại đưa tôi đến làm khổ sai ở Sở Ruộng, nhưng chưa đến một năm cũng bị chúng đưa ra phòng “Chuyên môn” đánh một trận, còng chân nhốt hầm đá rồi đưa trở lại “Chỉ Tồn” trại 3, vì không làm khổ sai tốt! Tháng 5-1970 chúng lại đưa ra “Chuyên môn” đánh chí tử mặt mày sưng húp vì cho tôi là người cầm đầu lãng công khi làm khổ sai. Tôi tự mổ bụng phản đối việc đánh đập này, nên tập thể bạn tù trong phòng đòi chúng đưa vào nằm bệnh xá chữa trị. Tháng 6-1970, chúng đưa tôi qua nhà bếp rồi “Chỉ Tồn” trại II. Cuối cùng đưa đến Sở Muối vì tôi bị bệnh phổi.
Đầu năm 1971, toàn trại II đấu tranh đòi xả còng, đòi được tắm giặt và đòi được ra ngoài sân tắm nắng mỗi buổi 1 giờ giành thắng lợi. Mỗi phòng cấm cổ trong trại như là một vùng giải phóng ngoài đời! Được tự do trong phòng giam, công khai học tập, chúng không thể cấm đoán và làm gì được. Bây giờ tập thể tổ chức học văn hóa. Nhiều lớp trình độ khác nhau từ tiểu học đến trung học. Trên sàn xi măng, nơi ngủ của người tù được chia ra từng khoảnh diện tích nhỏ cho từng lớp học. Không có giấy bút nên mỗi học viên khi ra tắm nắng tranh thủ nhặt mảnh san hô, gạch vụn vào làm phấn để viết. Người học cao hơn dạy cho người học thấp hơn. Tôi dạy toán lớp 9 và tự học toán lớp 12. Thời gian này tôi có điều kiện để trao đổi những bài toán khó với một vài bạn khác có cùng trình độ hoặc cao hơn tôi. Ngoài học văn hóa, mọi người sôi nổi học chính trị, do các đồng chí lãnh đạo có trình độ cao thuyết trình, nhất là dịp kỷ niệm những ngày lịch sử. Các anh em có năng khiếu cùng nhau biểu diễn văn nghệ và cố tìm giấy bút để làm báo tường. Mọi người rất hồ hởi, không khí thật vui tươi hào hứng.
Việc học trong nhà tù rất cực khổ nhưng ý chí học tập của anh em rất cao nên kết quả rất tốt. Một số đợt học tập trung như đợt học bản “Hiệu triệu” của Khu ủy Khu V, Di chúc của Bác Hồ, nội dung Hiệp định Pa-ri... tuy rất dài nhưng phần lớn anh em đều thuộc lòng.
Sau ngày miền Nam giải phóng hoàn toàn, nhờ kiến thức học được trong tù, tôi đã nộp đơn xin thi và thi đỗ tốt nghiệp Trung học phổ thông (Ban Toán) khóa ngày 12-9-1975 tại Hội đồng thi Tam Kỳ, Quảng Nam (khóa thi đầu tiên sau ngày giải phóng) và năm 1976 thi đỗ vào Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng hệ chính quy. Sau khi tốt nghiệp ra trường, tôi tiếp tục công tác góp phần xây dựng quê hương.
Một bản báo cáo của Ban An ninh Trung tâm cải huấn I cho biết, năm 1965 tại chuồng cọp 26, nhóm tù nhân gồm Phan Công Phú, Lê Quyết Chiến, Hồ Thạnh đã tổ chức kiểm điểm kế hoạch đấu tranh và tổ chức học lý luận duy vật lịch sử. Phan Công Phú thuyết trình bài Lao động sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Những tù nhân này bệnh nặng, sức yếu, nằm học, lúc nào mệt quá, đau ngực khó thở thì nghỉ. Bản báo cáo cho biết tri thức cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin phần duy vật biện chứng có các bài:
Vật chất và ý thức
Mối liên hệ phổ biến – Vận động và phát triển
Quy luật mâu thuẫn
Quy luật lượng biến / chất biến
Quy định phủ định của phủ định
Các cặp phạm trù
Thực tiễn luận.
Phần duy vật lịch sử có các bài:
Sản xuất và phương thức sản xuất
Giai cấp vá đấu tranh giai cấp
Từ công xã nguyên thủy đền xã hội phong kiến
Xã hội tư bản
Xã hội xã hội chủ nghĩa
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc
Vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử
Cách mạng và chính quyền
Chiến tranh và quân đội.
Chương trình huấn luyện tri thức cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin do Trần Ngọc Tự, cán bộ quân báo, nguyên là giảng viên trường sĩ quan lục quân bị đày ra đảo đã được đưa vào từng chuồng cọp, từng nhóm tù rồi lan rộng ảnh hưởng toàn trại I, trại IV, chuồng cọp của tù chính trị câu lưu. Nhiều cặp phạm trù như: bản chất – hiện tượng, nội dung – hình thức, khả năng – hiện thực, nguyên nhân – kết quả, phổ biến đặc thù đã được tù chính trị vận dụng nhuần nhuyễn vào việc tổ chức đấu tranh đối với chế độ nhà tù.
Có thể nói, việc tự học ở Nhà tù Côn Đào không những đã trở thành một mặt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, góp phần tôn vinh phẩm chất anh hùng, bất khuất của chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước. Những kết quả học tập trong nhà tù Côn Đảo còn khẳng định tinh thần cần cù, chăm chỉ, những tấm gương hiếu học ở nhà tù đồng thời gợi mở các vấn đề giáo dục về trí dục, đức dục, thể dục trong việc đào tạo con người ngay trpong hoàn cảnh bế tắc, khó khăn. Những tấm gương tự học trong Nhà tù Côn Đảo không chỉ giúp các thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ thêm về con người cách mạng, con người đảng viên, người yêu nước của tù nhân Côn Đảo mà còn gợi mở những vấn để cần nghiên cứu về về khoa học giáo dục, về lịch sử giáo dục cách mạng Việt Nam.

ThS. PHẠM VĂN THỊNH
Trường Đại Học Thủ Dầu Một
print   Email   Top


Các tin khác:
Côn Đảo qua ghi chép của Đại Nam Nhất Thống Chí (10-09-2014)
Vấn đề về bảo tồn và phát huy giá giá trị di tích nhà tù Côn Đảo trong phát triển và hội nhập (10-09-2014)
Tự học của những người yêu nước trong nhà tù Côn Đảo (10-09-2014)
Côn Sơn - “Giao điểm” của các dải “lụa” giao thương biển Á Châu và thế giới thời cổ (10-09-2014)
Hiểu thêm về công cuộc khẩn hoang, dựng đồn bảo ở Côn Đảo (Thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX) (10-09-2014)
Côn Đảo, Hoàng Sa và cụ Huỳnh Thúc Kháng (10-09-2014)
Đấu tranh bảo vệ khí tiết ở nhà tù Côn Đảo thời chống Mỹ (10-09-2014)
Những vấn đề cần làm rõ xung quanh các cuộc nổi dậy đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo từ năm 1862 đến năm 1868 (10-09-2014)
Về nhận thức của người Pháp đối với Côn Đảo trước năm 1862 (08-09-2014)
Về chuyến tàu đày đi Côn Đảo của 1.012 người yêu nước năm 1972 (08-09-2014)
Trí thức Việt Nam từ nhà tù Côn Đảo đến các mặt trận kháng chiến (1862 - 1945) (08-09-2014)
Côn Đảo trong nỗ lực của Công ty Đông Ấn Pháp nhằm thiết lập một thương điếm ở Đàng Trong (1686 - 1769) (08-09-2014)
Côn Đảo qua một số báo chí Sài Gòn trước năm 1975 (08-09-2014)
Danh phận cư dân Côn Đảo (08-09-2014)
Đấu tranh của tù nhân Côn Đảo đòi thi hành Hiệp định Paris năm 1973 (08-09-2014)
Những cứ liệu cũ về địa danh Côn Đảo (08-09-2014)
Mấy vấn đề về khai thác du lịch văn hóa tâm linh ở Côn Đảo (08-09-2014)
Bảo tồn phát huy di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo dưới góc nhìn quản lý (08-09-2014)
DANH SÁCH LIỆT SĨ HY SINH TẠI NHÀ TÙ CÔN ĐẢO (21-11-2011)
Hoạt động báo chí cách mạng ở nhà tù Côn Đảo (01-10-2011)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.056.331