Trang chủ Giới thiệu Tuyển dụng Liên hệ - Góp ý
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện hình ảnh
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Liên hệ - Góp ý
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 
 

Liên kết Website
Cồng chiêng trong âm nhạc việt nam
Hơn 20 bộ sưu tập hiện vật của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với những chất liệu khác nhau, nội dung lịch sử khác nhau thì bộ cồng chiêng là một trong những bộ sưu tập quý hiếm của các dân tộc thiểu số vùng miền Đông Nam bộ nói chung và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng.

Trong quá trình lịch sử của một nền văn hóa những loại hình nghệ thuật được nảy sinh, phát triển, định hình rồi lại suy tàn nhường chỗ cho những loại hình mới hơn, đó là quy luật  tất yếu, ở lĩnh vực chuyên nghiệp hay lĩnh vực dân gian cũng đều như vậy. Tuy nhiên, bên cạnh cái tình hình “dâu bể” chung đó lại có những trường hợp xem như ngoại lệ, đó là những hình thái, tập quán nghệ thuật có nguồn gốc rất xa xưa điều mà người ta có thể chứng minh, lại vẫn còn tồn tại đến ngày nay, sống động rực rỡ như một thách thức hiên ngang trước thời gian khắc nghiệt, trước những biến đổi lớn lao của xã hội. Âm nhạc cồng chiêng chính là một trong những trường hợp khá hiếm hoi đó.

Trước hết khi nói về cồng chiêng là hai thứ nhạc khí bằng đồng, giống hình chiếc đĩa có vành dày hoặc mỏng, có vú (núm) ở giữa hoặc không có đường kính từ 1,2 đến 5,6 tấc. Những cái chiêng hay cồng riêng lẻ ấy vễn còn được dùng trong các dàn nhạc cổ truyền Việt Nam, với tư cách là một thành viên của bộ gõ, đại để giống như các cymbal trong các dàn nhạc phương Tây. Cồng chiêng đề cập ở đây là những dàn gồm nhiều đơn vị, làm thành bộ diễn tấu độc lập như một dàn nhạc (mặc dầu chỉ gồm một loại nhạc cụ) và chỉ trong một vài trường hợp có bổ sung thêm một vài nhạc cụ bộ gõ khác như trống da, lục lạc...

Thật ra, từ những thập niên đầu ở thế kỷ này, một số học giả về Đông Dương (phần đông là người Pháp) đã lưu ý tới bộ cồng chiêng ở Việt Nam. Những gợi ý đầu tiên có thể xuất phát từ những hoa văn trên các trống đồng. Đặc biệt, trên trống đồng Ngọc Lũ mà niên đại đã được xác định là từ thời đồng thau 2500 đến 3000 năm theo một số chuyên gia nghiên cứu hoa văn trống đồng có hình của một dàn cồng chiêng bảy chiếc.

Trong văn học dân gian, tên gọi cồng chiêng để chỉ nhạc cụ này cũng đã được nhắc đến khá nhiều qua những câu tục ngữ, ca dao có thể xuất hiện từ rất xa xưa:  “Lệnh Ông không bằng cồng Bà” hoặc “Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”. Có thể cồng, chiêng trước đây cũng tồn tại phổ biến trong dân tộc Việt, nhưng vì một lý do nào đó mà người Việt ít còn sử dụng, chỉ có những tộc người sinh sống ở rừng núi, trong đó có Xtiêng, Chơro mới sử dụng mà thôi. Bằng chứng là người Việt cổ đã có dàn cồng chiêng bảy chiếc như được ghi nhận trên những chạm khắc của mặt trống đồng.

Các dân tộc Tây Nguyên, cũng như nhiều dân tộc có cồng chiêng khác, tên gọi của hai loại nhạc cụ này rất không thống nhất và thiếu sự rạch ròi. Ở các dân tộc đó, hai tiếng cồng và chiêng không được dùng để chỉ rõ cho loại nào trong hai loại: có núm và không có núm. Người Mạ gọi chung hai loại là “ Chi - ang”, người Giarai dùng hai tiếng “Chinh” và “ Chênh”, một số dân tộc khác lại dùng các tiếng “Gong”, “Gông”, “Goong”, “Gôông”... không hề phân biệt. ở miền Bắc dân tộc Mường cũng dùng cả hai tiếng “Cồng” và “Chiêng” không phân biệt để chỉ nhạc cụ này. Đối với người Việt, ngoài hai loại tiếng phổ biến là “cồng” và “chiêng” còn có khá nhiều tên gọi cho hai nhạc cụ này, đó là: “lệnh”, “la”, “ đồng la”, “thanh la”, “mã la”, phèng la”...  

Màu sắc: khi mới làm ra, cồng chiêng thường có màu của đồng vàng, đồng đỏ hoặc nâu đen, tùy theo mức độ liều lượng pha chế của hợp kim đồng. Trước khi xuất xưởng người thợ chế tác bao giờ cũng gia công thêm để cồng chiêng có màu xám đen như đồng đen. Muốn biết màu sắc thật của đồng, phải cạo ra hoặc quan sát những chỗ bị mài mòn trên mặt, trên núm cồng chiêng do sử dụng lâu ngày.

Chất liệu: cồng chiêng được chế biến bằng đồng có pha thêm một số kim loại khác và phương pháp hoàn toàn thủ công với thao tác gò bằng tay. Mức độ pha chế đồng là bí quyết của nghệ nhân chế tác nhằm tạo được những chiếc cồng chiêng có âm thanh ngân vang,  trong trẻo hoặc trầm ấm.

Ở thành mỗi cái cồng đều có hai lỗ nhỏ để luồn dây đeo. Khi đánh, người ta khóac cồng vào vai trái và tay phải đấm bằng nắm tay hoặc dùng dùi vải mềm để gõ vào núm lồi ở mặt ngoài của cồng. Tay trái luồn vào mặt sau hoặc đặt trên thành cồng để chặn ngắt, bịt, mở nhằm tạo ra tiếng cồng ngân dài, ngắn gọn, hợac trong, đục. Vì có kích thước lớn, khá nặng, nên ngoài những hội lễ cần thiết phải đi vòng mà đánh (như lễ đâm trâu) còn thì thông thường cồng được treo dây dòng tứ xà nhà, kèo nhà xuống mà đánh.

Cũng như cồng, chiêng được luồn dây và đeo vào vai trái. tay phải đấm bằng nắm tay vào mặt trước của chiêng. Điểm đánh không phải chính giữa mặt chiêng mà ở chỗ nằm giữa tâm và rìa chiêng.

Do cấu tạo đặc biệt khác với cồng, chiêng phẳng không có núm lồi ở giữa. Âm thanh của chiêng nếu đánh bình thường sẽ có rất nhiểu bội âm làm cho nhòe và khó nhận biết cao độ thật. Vì lý do đó, nghệ nhân Xtiêng đã xử lý tiếng chiêng một các hết sức tinh tế, nghệ thuật qua bàn tay trái.

Trong khi đánh thì tay trái chặn ngắt mặt phía trong của chiêng sao cho bội âm vang lên để cho ra tiếng chiêng kêu “bum, bum” chứ không kêu “phèng, phèng” bằng âm thanh thật của nó. Âm thanh phát ra lúc này là bội âm cộng, cao hơn âm thanh thật của chiêng một quãng 8. Điều này lý giải vì sao khi đưa vào máy đo thì chiêng có tần số thấp hơn cồng, trong khi tai nghe thực tế biểu diễn lại thấy cồng thấp hơn chiêng.

Cồng, chiêng là biểu hiện của sức mạnh vật chất: Trước khi xét đến cồng, chiêng dưới vai trò là một nhạc cụ - nghĩa là về mặt văn hóa tinh thần của nó. Chúng ta hãy xem cồng, chiêng như  một hiện vật vật chất. Thật vậy từ bao đời nay, trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên nói chung cồng, chiêng luôn được xem như một tài sản quý, thậm chí là của gia bảo cha truyền con nối. Cồng, chiêng thể hiện sự giàu có của cộng đồng, của dòng tộc và từng gia đình. Bởi lẽ, cồng, chiêng luôn được trao đổi bằng trâu, bằng thóc lúa. Một bộ cồng, chiêng có thể đổi được bốn, năm con trâu. Có những bộ cổ quý giá, có tiếng vang hay, được đổi bằng vài chục con trâu. Theo khảo sát của ngành Văn hóa Thông tin Sông Bé, mật độ cồng, chiêng ở cộng đồng Xtiêng rất dày đặc, nhiều gia đình có cồng, chiêng, có nơi như xã Hòa Lộc, Lộc Ninh đến 70% gia đình trong xã có 2 thậm chí 3 bộ cồng, chiêng. Như vậy xét trên toàn bộ cộng đồng thì cồng chiêng có một khối lượng rất đồ sộ và đó là một tài sản rất lớn của đồng bào.

Cồng Chiêng là biểu hiện của sức mạnh tinh thần là vẻ đẹp của tâm hồn. Cồng, chiêng gắn liền với các nghi lễ và sinh hoạt văn nghệ. Hầu như  không có lễ hội hoặc một buổi sinh hoạt bình thường nào mà lại không có sự góp mặt của cồng, chiêng. Việc biểu diễn cồng chiêng bằng cách mỗi người đánh một chiếc đã thể hiện tính cộng đồng của nó. Nhưng sự có mặt của cồng chiêng ở hầu khắp mọi hoạt động văn nghệ càng khẳng định vị trí không thể thiếu, sự gắn liền như máu thịt với cộng đồng.

Thể hiện lòng tôn kính, sự tưởng nhớ, biết ơn tổ tiên cũng như tỏ lòng tôn trọng đối với cồng, chiêng, bao giờ người dân tộc cũng làm một lễ cúng trước khi sử dụng cồng chiêng. Lễ cúng có thể lớn, nhỏ, đơn giản hoặc cầu kỳ tùy theo mức độ của hội lễ hoặc khả năng của gia chủ. Thường lễ cúng đơn giản gồm một con gà, một chai rượu có khi thêm gạo muối. Người cao tuổi nhất, uy tín nhất trong đám lễ sẽ làm thủ tục cúng, xin ông bà tổ tiên cho phép được dùng đến cồng, chiêng, cho cồng, chiêng được cất tiếng. Sau khi cúng, người này phun rượu và bôi tiết ầa (heo, chó...) vào mặt sau của cồng, chiêng. Trong những ngày hội lễ lớn, người dân tộc (Xtiêng) còn vẽ hoa văn trang trí trên mặt của cồng, chiêng. Hình vẽ thường là những ngôi sao tám cánh, mười cánh và một số hình trang trí khác.

Như một buổi tiệc vui, một buổi liên hoan mừng gặp mặt hoặc đơn giản là săn bắt  được con thú lớn. Cồng, chiêng thường được đánh ngay trong nhà với tư thế ngồi quây quần thân mật. Cồng, chiêng được treo bởi những sợi dây ròng từ kèo nhà, xà nhà xuống.

Như mừng đầy cữ em bé (lễ thổi tai), mừng lúa mới, mừng nhà mới, đám cưới... cồng, chiêng thường được biểu diễn ngoài trời, quanh những đống lửa tạo  thành vòng tròn cồng, chiêng. Người đánh cồng, chiêng vừa biểu diễn vừa cười đùa vui vẻ và thỉnh thoảng lại ghé xuống các vòi rượu cần. Một không khí thân mật, mừng vui bao trùm với tiếng cồng tiếng chiêng rộn ràng ấm áp.

Cồng chiêng trước tiên là lời hiệu triệu, sau đó trở thành tiếng kèn xung trận, gây  không khí sôi động khẩn trương động viên khích lệ đồng đội, uy hiếp kẻ thù, muông thú.

Có thể nói lễ đâm trâu là lễ lớn và có quy mô nhất đối với người dân tộc. Lễ này được tiến hành bởi nhiều lý do: mừng chiến thắng, mừng được mùa, mừng làm ăn phát đạt, hoặc nhân dịp Tết cổ truyền.

Trong đám tang, cồng, chiêng được sử dụng một các độc đáo, thể hiện quan niệm thẩm âm, thẩm mỹ vô cùng tinh tế. Khi sử dụng trong đám tang, tay trái không còn chặn ngắt mặt trong của cồng, chiêng, tạo cho âm thanh ngân dài vang xa chứ không dồn dập, rộn rã như ngày thường. Cồng, chiêng được treo lên chứ không đeo vào người, cũng khi đi vòng tròn và đánh kèm với trống cái (Sưn gar Gdeng). Ngược lại với cồng, chiêng bình thường trống cái được treo lên thì trong đám tang trống lại bị hạ xuống đất. Đánh cồng, chiêng theo lối không chặn ngắt ba tiếng liền, là dấu hiệu của đám tang, vì thế ngày  bình thường điều cấm kỵ là đánh cồng, chiêng không chặn ngắt theo từng chập 3 tiếng.

Cồng, chiêng gắn bó với con người từ lúc chào đời. Cồng, chiêng vang lên trong lễ thổi tai khi trẻ sơ sinh đầy cữ. Cồng, chiêng ru bé ngủ dẫn dắt bé vào đời, bây giờ cồng, chiêng tiễn biệt người quá cố. Tiếng cồng, tiếng chiêng trong đám tang được vang lên không theo quy luật thông thường, tạo sự xáo trộn bất an và ngân dài như nỗi niềm nhớ thương, luyến tiếc cồng, chiêng đã tiễn người đi và cũng như nhắn nhủ người ở lại, rằng hãy thương yêu nhau hơn, quan tâm đến nhau hơn và sống sao cho có nghĩa có tình.

Gắn gó gần gũi, thân thương với đời người từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành rồi cả khi nằm xuống; từ lúc nằm nôi đến kỳ trao duyên; từ trong lao động sản xuất cho đến săn bắn, chiến đấu; từ  những hội vui đến những lễ buồn... cồng, chiêng đã vượt lên trên vai trò một nhạc khí, một vật dụng sinh hoạt bình thường thực sự trở thành biểu tượng của sức mạnh tinh thần.

                                                                                                                                                             BBT

print   Email   Top


Các tin khác:
ĐÔI NÉT VỀ BỘ SƯU TẬP CỔ VẬT GỐM SỨ UNG CHÍNH NHÀ THANH – TRUNG HOA (27-09-2011)
Về niên đại sưu tập vũ khí lạnh phát hiện tại Dinh Cô (Long Hải) (24-02-2010)
Những câu chuyện bên lề kho báu dưới lòng đại dương (24-02-2010)
Họa tiết hoa văn trên gốm sứ Hòn Cau (24-02-2010)
Cồng chiêng trong âm nhạc việt nam (23-02-2010)
Kho báu dưới đáy biển được phát hiện (23-02-2010)
Cổ vật trục vớt từ vùng biển phía Nam. (15-01-2009)
Cổ vật trên tàu cổ Bình Châu (15-01-2009)
Sưu tập cổ vật Hòn Cau (toạ độ X) (15-01-2009)
Sưu tập gốm sứ Trung Hoa trên tàu cổ tọa độ X3 (15-01-2009)
Sưu tập gốm Thái Lan trên tàu cổ toạ độ X2 (15-01-2009)
Sưu tập cổ vật Pháp từ vùng biển Bãi Dâu: (15-01-2009)
Sưu tập súng thần công thời Minh (thế kỷ XVI) (15-01-2009)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.164.250