Trang chủ Giới thiệu Tuyển dụng Liên hệ - Góp ý
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện hình ảnh
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Liên hệ - Góp ý
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 
 

Liên kết Website
Phế tích thành cổ Sơn Tây
Thương nhớ “Xứ Đoài mây trắng lắm”, một ngày mùa Thu 1998, trong chuyến đi Vũng Tàu – Hà Nội, tôi về thăm thành cổ – niềm tự hào của những “đôi mắt người Sơn Tây”. Dọc hành trình, hình ảnh thành cổ, chợ Nghệ, phố xá Sơn Tây, con đường vào Tông hiện ra trong ký ức tuổi thơ cách đây trên 70 mùa lá rụng, hoài niệm lung linh vẫy gọi.

     Xe đỗ bến, ngay đầu thị xã, tôi háo hức đạp xe, lòng vòng, quanh thành cổ. Hơi buồn trước tang thương biến đổi. Phố xá thưa thớt bóng người, ngay cái chợ Nghệ xưa kia hàng họ buôn bán tấp nập là thế, nay  cũng gần như hiu quạnh!
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương”
 
Lượn theo chu vi đường hào thành cổ, 1600m, hình như nước hào không thay đổi màu sắc, vẫn xanh xanh trầm mặc, nhưng cảnh tượng thì hoang phế. Trên đường hào một con trâu thủng thỉnh vô tư gặm cỏ, thỉnh thoảng nghếch đôi mắt hiền hậu nhìn trời.
Tôi tản bộ qua cầu Cửa Tả đi vào nội thành. Mấy nhân viên đứng ở cổng ra vào nhìn tôi lạ lẫm, nhưng không nói gì, để tôi tự do vào. Có lẽ mấy chàng nhân viên Phòng Văn hóa. Họ nhìn cái máy ảnh tôi đeo máng vào vai mỉm cười, có lẽ họ cười vì thấy một ông già đang đăm chiêu tìm về quá khứ. Quá khứ một phế tích!
Đúng là phế tích! Đường đầy lá rụng, cỏ úa vàng, rừng cây âm u phủ bóng trầm mặc toàn bộ diện tích 16ha nội thành. Đây đó chốc chốc hiện ra những bức tường đổ, vài căn nhà bỏ hoang. Hình ảnh duy nhất không bị thời gian và chiến tranh tàn phá là cây tháp nước nhô cao vượt lên khỏi rừng cây um tùm.
Đường trong nội thành có hai trục chính: Từ cửa Hậu sang cửa Tiền, từ cửa Tả sang cửa Hữu, nhưng cửa Hữu bị bịt kín không thông ra phố như những cửa khác. Đan xen là những con đường  nhỏ như đường bàn cờ, rêu phong cỏ mọc. Tuy nhiên, thỉnh thoảng lại gặp những ô cây cảnh, những cột điện nhỏ, bóng tròn xinh xinh. Chứng tỏ vẫn có bàn tay bảo tồn di tích của con người.
Một mình tha thẩn trên những con đường ngang dọc, dưới bóng rừng cây, suy tư về lẽ sống trong tang thương biến đổi, mà chạnh lòng núi xương sông máu. Nằm trong miền đất Việt cổ có nền văn hóa Sơn Vi 20.000 năm, Sơn Tây là một vùng đất Tổ của người Lạc Việt, nhưng thành Sơn Tây, gọi là thành cổ cũng chỉ mới 176 tuổi (1822-1998), được xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 3 triều Nguyễn. Vậy mà đã là một phế tích! Một phần là do sự khắc nghiệt của thời gian, nhưng chủ yếu là do chiến tranh hủy hoại. Lịch sử dân tộc từ khi dựng nước, hầu như là lịch sử của những cuộc chiến tranh oanh liệt chống ngoại xâm. “Lịch triều hiến chương loại chí” đã có những dòng ghi lại về mảnh đất Xứ Đoài: “Trấn Đoài ở về phía Tây. Núi cao, sông dài và sâu. Rừng rậm và hiểm. Đất rộng người thưa. Nhiều đời từng là phên dậu của đất Kinh Kỳ
Kinh Kỳ nêu ở đây là Thăng Long. Đến 2010, kinh đô Thăng Long chẵn một ngàn năm, đã chứng kiến bao lần binh lửa. Làm phên dậu bảo vệ Kinh Kỳ là nhân dân bốn phương hội tụ, tiêu biểu là tứ trấn: trấn Đông, trấn Đoài, trấn Nam, trấn Bắc với những tòa thành kiên cố. Trong những thành lũy ấy thì thành Sơn Tây được lịch sử ghi nhận là tòa thành được xây dựng độc đáo, đến nay tuy đã là phế tích nhưng vẫn còn giữ được tương đối nguyên dạng so với các thành ở 3 trấn khác (thành Hải Dương,  thành Nam Định,  thành Bắc Ninh)
Mùa Xuân tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1822), năm Minh Mệnh thứ 3... sử triều Nguyễn đã ghi: “Dời đắp thành trấn Sơn Tây. Thành cũ ở xã Cam Giá thuộc huyện Phúc Lộc bị sông lở. Ngày vua đi Bắc tuần đã sai giám thành đi ngắm địa thế và cho dời đến hai xã Mai Trai và Thuần Nghệ thuộc huyện Phúc Lộc. Đến nay lấy 2000 các quân ở Bắc Thành, ủy cho Phó thống thập cơ Tả quân là Vũ Văn Thân trông coi công việc...” (Đại Nam thực lục). Sách “Đại Nam nhất thống chí” Quốc sử quán triều Nguyễn cũng viết: “Thành Sơn Tây xây dựng năm 1822, chu vi 326 trượng 2 thước, cao 1 trượng 1 thước, 4 cửa. Hào chu vi 448 trượng, rộng 6 trượng 7 thước, sâu 1 trượng...”
Một điểm đặc sắc khác với tất cả các thành, là thành Sơn Tây được xây dựng toàn bằng đá ong gan gà, tường thành để trần, qua năm tháng, đá ong gan gà chuyển màu đỏ tía, tăng thêm vẻ đẹp cổ kính không nơi nào có. Thành cổ Sơn Tây đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 15-10-1994. Để làm chứng tích trong việc giáo dục truyền thống, lãnh đạo địa phương đã tu bổ, phục hồi từng phần như kỳ đài, cầu qua hào, nhưng tiếc thay không bảo tồn theo nguyên dạng, làm giảm giá trị cổ kính của nó.
Là trung tâm lỵ sở của một trấn, được xây đắp theo chỉ dụ của nhà vua, thành Sơn Tây phải theo nghi thức tôn ty trật tự của nó. Nhưng nằm trong vùng đất đế vương hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền, công trình kiến trúc đã thể hiện những điểm độc đáo vượt ra ngoài quy tắc của triều đình đương quyền: giữa trung tâm nội thành là Điện Kính Thiên hướng về Nam với 9 bậc thềm, cùng với Đàn Tiên nông, Đàn Xá tắc và các đền, miếu châu tuần về đó, những biểu tượng nghi trượng đế vương. Phải chăng cách kiến trúc “phạm thượng” đó là tâm thế bất khả kháng thể theo ý nguyện nhân dân xứ Đoài của Phó thống thập cơ Tả quân Võ Văn Thân ?
Nói đến giáo dục truyền thống về thành cổ Sơn Tây chính là nói đến cuộc chiến đấu chống xâm lược Pháp những năm cuối thế kỷ XIX. Nhân dân xứ Đoài, với tòa thành kiên cố đã tổ chức những trận huyết chiến vô cùng anh dũng, phối hợp với quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc, tiêu diệt bọn xâm lược, trong đó có các tên đầu sỏ Francis Garnier, Henri Rivière trong những trận phục kích trên đường Sơn Tây – Thăng Long. Tên trung tá Henri Rivière, kẻ tổng chỉ huy hạ thành Hà Nội đưa đến sự tuẫn tiết của tổng đốc Hoàng Diệu đã phải đền tội ngay tại thị trấn Cầu Giấy. Tên thiếu tá Francis Garnier thì bị chết năm 1873 trên đường Võ Trại.
Cũng nên nói thêm về Lưu Vĩnh Phúc mà có nhà sử học gọi là người anh hùng. Lưu Vĩnh Phúc là tướng Cờ đen của đội quân nông dân khởi nghĩa bên Trung Quốc dạt sang Việt Nam, được Hoàng Kế Viêm  - Thống lĩnh quân thứ Tam Tuyên thu phục, gắn bó chống Pháp có công, được vua Tự Đức phong chức Đề đốc. Suốt hơn 10 năm từ những năm 70 thế kỷ XIX đến cuối năm 1883, đã được Hoàng Kế Viêm tin cậy, cùng tổ chức trận tuyến bảo vệ Thăng Long trên những con đường hiểm từ Sơn Tây qua Đan Phượng đến Cầu Giấy. Chiến thắng vang dội Cầu Giấy lần thứ nhất năm 1873 diệt tổng chỉ huy giặc Pháp Francis Garnier, lần thứ hai năm 1882 bắn chết tổng chỉ huy giặc Pháp Henri Rivière, có công đóng góp của Lưu Vĩnh Phúc. Thành Sơn Tây thất thủ (12-1883), triều Nguyễn đầu hàng, Lưu Vĩnh Phúc về Trung Quốc, ông và gia đình hết lòng giúp đỡ những người ái quốc Việt Nam: Nguyễn Thiện Thuật, Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ...
Thái độ ươn hèn của nhà Nguyễn với hiệp ước bán nước Patơnốt đã làm bùng lên phong trào Cần Vương chống giặc Pháp cứu giang sơn. Những tấm lòng ưu dân ái quốc hừng hực suốt Trung, Nam, Bắc, trong đó có những người của xứ Đoài, tiêu biểu là Tán lý quân thứ Sơn Tây Nguyễn Thiện Thuật đã mộ quân khởi nghĩa. Là kẻ hậu sinh, những năm cuối thập kỷ 30 của thế kỷ XX, tôi được nhìn thấy thị xã Sơn Tây với toà thành cổ, chợ Nghệ, với phố xá “yên bình” có những cái tên Cửa Tiền, Cửa  Hậu, Cửa Tả, đến nay vẫn còn nhớ một hiệu sách rất to ở Cửa Tả nơi tôi vào mua cuốn “Petit Larousse Illustré”, lang thang cuộc đời giáo khổ tư thục ngoại ô Hà Nội, rồi tham gia cách mạng, say sưa cống hiến trong ngành an ninh Thái Nguyên, Phúc Yên, lại quay về Giáo dục, được hạnh phúc đi khắp nơi từ địa đầu Móng Cái đến mũi Cà Mau, hiểu thế nào là non sông gấm vóc và càng hiểu thế nào là cái đau khổ của chiến tranh và nghèo đói. Cho đến hôm nay, trở lại Thành cổ Sơn Tây. Một phế tích! Một phế tích đang cựa mình trỗi dậy. Những chiến sĩ tử thủ bảo vệ lẽ sống trong thành nội, dưới bùn đất hào sâu thành cổ đang trỗi dậy đòi quyền sống cho Tổ quốc.
Tính đến năm 2002,  Thành cổ Sơn Tây đã tròn 180 năm (1822-2002) Phó thống thập cơ Tả quân Vũ Văn Thân cùng 2000 quân lính đặt viên đá ong đầu tiên xây dựng thành Sơn Tây, tôi sung sướng được đọc “THÀNH CỔ SƠN TÂY” (Dẫn luận Hội thảo khoa học về thành cổ Sơn Tây) của người con Xứ Đoài tiến sĩ Đinh Công Vĩ và nhiều bản tham luận rất sâu sắc của nhiều thức giả. Nhà văn Hoàng Quốc Hải với bài “Thành cổ Sơn Tây trong tương quan lịch sử – văn hóa – cảnh quan du lịch” – đã nói lên niềm tin rất lạc quan: “Sơn Tây là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, lại rút được kinh nghiệm phát triển du lịch trong và ngoài nước nhất định sẽ làm tốt cả hai nhiệm vụ tôn tạo và giữ gìn thật tốt các di sản văn hóa, bảo vệ vững môi sinh. Điều này sẽ làm cho nguồn thu nhập từ kinh tế du lịch được ổn định lâu dài...”
Cũng như nhà văn Hoàng Quốc Hải, là người con của Xứ  Đoài, tôi hy vọng những người con của xứ Đoài đang làm chủ mảnh đất thấm đẫm máu xương ấy, dũng cảm, sáng suốt, vượt qua mọi thách thức cám dỗ, đưa nhân dân Sơn Tây thoát đói nghèo.
Thoát cảnh đói nghèo, có lẽ Sơn Tây còn phải... “lạy trời”! Hàng năm cứ đến mùa mưa lũ, những người con Xứ Đoài lại lo lắng thắt tim. Đó là chuyện xả lũ để bảo vệ an toàn cho thủ đô Hà Nội – trách nhiệm phên dậu đối với trung tâm chính trị - kinh tế  - văn hóa của đất nước. Khi tại thu đô đỉnh lũ lên tới 13,60m, Chính phủ sẽ ra lệnh xả lũ sông Hồng vào sông Đáy. Và lập tức 26 cửa cống Ba Xuân - Vân Cốc huyện Phúc Thọ, nơi tiếp giáp hữu ngạn sông Hồng phải mở ra, và lập tức hàng trăm xã của nhiều huyện Xứ Đoài với hàng triệu con người phải sống trong cảnh mênh mông trời – nước. những công dân Xứ Đoài vùng xả lũ ấy bao năm nay, đầy ý thức tự giác, chịu hy sinh gian khó cao cả vì lợi ích chung của dân tộc. Đã từng mưu trí dũng cảm đương đâu với địch họa, người Xứ Đoài lại sẵn sàng nhận về mình trách nhiệm vô cùng gian nan chống chọi với thiên tai! Chao ôi! Cái việc chống trời đâu có thể lãng mạn nói đến chuyện cân sức! Tôi sực nghĩ đến các vị La Hán chùa Tây Phương:
“ Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”
 
     Lãnh đạo nhân dân chiến đấu thoát kiếp sống “vong quốc nô”, máu sông xương núi, ta đã làm được. Nhưng cuộc đấu tranh thoát nghèo đói, lạc hậu, chúng ta đang ra sức dồn tâm trí để làm, mà nghe chừng những nguy cơ, thách thức còn đang cản đường, ngăn lối. Đối với đại sự quốc gia là thế. Đối với riêng Xứ Đoài cũng thế. Kể chuyện “Phế tích thành cổ Sơn Tây” với những dông dài xưa cũ và Hội thảo khoa học về thành cổ ấy với những kiến giải tôn tạo phát triển văn hóa du lịch, chẳng qua cũng chỉ nhằm cái đích: Thoát đói nghèo.
Xét cho cùng đây cũng là đạo đức ân trả nghĩa đền của những người đang sống đối với những vong linh lớp lớp những con người đã về cõi vĩnh hằng.

Nguyễn Hòa Bình
(Nguyên giảng viên bộ môn
Lịch sử Đảng Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội)



print   Email   Top


Các tin khác:
Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ) (20-11-2013)
Tư tưởng yêu nước Việt Nam - bảo bối của giữ nước và dựng nước (20-11-2013)
Giữ gìn trật tự xã hội đời Nhà Trần (20-11-2013)
Người Việt Nam đầu tiên đến nước Mỹ (20-11-2013)
LÊ THÁNH TÔNG (1442 - 1479) - Từ người con hiếu thảo đến ông Vua nhân hậu (20-11-2013)
CÓ HAY KHÔNG THỐNG CHẾ TRẦN ĐỒNG ? (20-11-2013)
Vai trò của Thanh Niên Tiền Phong trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 tại Và Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Phế tích thành cổ Sơn Tây (20-11-2013)
Những nét đặc sắc của cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Côn Đảo trong cách mạng tháng Tám 1945 (20-11-2013)
Nguyễn Ngọc Bảo với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 tại Vũng Tàu (20-11-2013)
Ngẫm nghĩ dưới chân công trình (20-11-2013)
Những Chiến Công Chống Ngoại Xâm Vùng Biển Dưới Thời Các Chúa Nguyễn Ở Đàng Trong (20-11-2013)
Góp thêm tư liệu về cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 ở Bà Rịa (20-11-2013)
Một vài yếu tố văn hóa đặc trưng của vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu có thể khai thác phục vụ du lịch và tổ chức lễ hội (20-11-2013)
Lịch sử - sự thật và sử học (20-11-2013)
Bàn về một chương trình nghiên cứu khoa học góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Chuyến đi đột phá, táo bạo của tàu 56 chở 44 tấn vũ khí vào bến Lộc An ngày 22 - 12 - 1964 phục vụ Chiến dịch Bình Giã (20-11-2013)
Các đội “Danh dự trừ gian” trong cao trào kháng Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa (20-11-2013)
Khai thác các giá trị văn hóa phong phú, đặc sắc của Bà Rịa - Vũng Tàu cho hoạt động du lịch (20-11-2013)
Danh xưng Cap Saint Jacques có từ lúc nào ? (20-11-2013)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.053.346