Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ Thông Tin Cần Biết
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Các di chỉ khảo cổ
Phát hiện mới
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện hình ảnh
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 
 

Liên kết Website
Hoạt động khảo cổ học tại Bảo tàng tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu

HOẠT ĐỘNG KHẢO CỔ HỌC

CỦA BẢO TÀNG BÀ RỊA -VŨNG TÀU

 
                             PHẠM QUANG MINH
                 PGĐ Bảo tàng tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu
 
 
Bà Rịa Vũng Tàu, tỉnh duyên hải miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam của đất nước. Tỉnh có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên. Những tài liệu địa chất cho biết sau thời kỳ biển thoái cách đây hơn 3.000 năm, cảnh quan địa hình cơ bản đã ổn định như ngày nay. Chính vào thời kỳ này, cuộc sống của cư dân thời tiền sử Đông Nam Bộ đã có nhiều thay đổi quan trọng. Họ đã di cư từ vùng đất cao xuống khai phá sinh sống trên những vùng đất sình lầy ven biển.
 
Hoạt động khảo cổ học đã được biết đến hơn một trăm năm nay, các nhà nghiên cứu khảo cổ học, những nhà địa chất người Pháp đã có công trong việc phát hiện ra những di tích Tiền -Sơ sử đầu tiên trên điạ bàn tỉnh và cả miền Đông Nam Bộ. Từ sau năm 1975, hoạt động khảo cổ học được tiến hành trên một quy mô lớn hơn, đạt được một số thành tựu quan trọng, bước đầu làm sáng tỏ giai đoạn thời tiền - sơ sử ở Bà Rịa Vũng Tàu cũng như trong vùng Đông Nam Bộ.
 
Trong những năm vừa qua trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được một số di chỉ, mang lại những nhận thức mới về nghiên cưú thời Tiền - Sơ sử. Việc phát hiện nhóm di chỉ khảo cổ Bưng Bạc - Bưng Thơm được xem là nhóm di tích tiêu biểu bởi tính quy mô và những nét đặc trưng riêng về loại hình di tích di vật. Đây là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu nền văn hoá thời Tiền - Sơ sử Bà Rịa Vũng Tàu.
 
Về cơ bản mật độ các di chỉ phân bố không đều. Trong khi các di chỉ đã được phát hiện và nghiên cứu như Bưng Bạc, Bưng Thơm, Gò Cá Sỏi và một hệ thống các gò ven sông Thị Vải, thì ở địa bàn các huyện như Xuyên Mộc, Châu Đức, dấu hiệu các di chỉ rất mờ nhạt, do các huyện này đều có địa hình đồi gò laterít. Phần lớn các di chỉ nằm ở những nơi gần nguồn nước, độ dốc lớn lại chịu ảnh hưởng nhiều của quá trình canh tác, trồng cây công nghiệp của địa phương, nên tầng văn hoá mỏng bị xáo trộn và rửa trôi vào mùa mưa là điều không tránh khỏi.
 
Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có nhiều tiềm năng khảo cổ học thời Tiền - Sơ sử. Nằm trong khu vực duyên hải Đông Nam Bộ cận kề với Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh là những địa bàn đã phát hiện ra các di chỉ khảo cổ học quan trọng, do đó việc chịu ảnh hưởng hay giao lưu trong khu vực là điều rất có thể. Trên địa bàn tỉnh không phải chỉ phát hiện được một số di chỉ trên, mà trong tương lai cần phải có nhiều cuộc điều tra khảo sát và khai quật nữa mói làm rõ được diện mạo thời Tiền - sơ sử trên địa bàn tỉnh nhà.
 
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, NHÂN VĂN, MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
 
Bà Rịa Vũng Tàu là tỉnh duyên hải miền Đông Nam Bộ. Có tọa độ địa lý từ 10020' đến 10045' vĩ bắc và 1070 đến 107035' kinh đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 125km về phía đông bắc. Bà Rịa Vũng Tàu có diện tích tự nhiên 2.047 km2 với dân số 861.600 người, gồm 20 thành phần dân tộc. Trong đó người Việt chiếm 97,5% dân số, các dân tộc khác có người Hoa, người Chơ Ro, người Khơ me, người Stiêng và người Tày. Địa giới hành chính phía bắc – tây bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh; đông bắc giáp tỉnh Bình Thuận; đông - đông nam giáp biển Đông. Tổ chức hành chính của tỉnh hiện nay gồm: thành phố Vũng Tàu (tỉnh lỵ), thị xã Bà Rịa và 6 huyện: Tân Thành, Châu Đức, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc và huyện đảo Côn Đảo.
 
Lịch sử nhân văn vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu đã trải qua nhiều biến đổi. Có thể nêu một số nét sơ lược: Những phát hiện mới về khảo cổ học những năm gần đây đã chứng minh hàng ngàn năm trước con người đã có mặt trên vùng đất này. Theo các tài liệu đã nghiên cứu cho biết trên địa bàn tỉnh đã phát hiện các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Óc Eo. Qua sự nghiên cứu của học giả người Pháp và sau này của các học giả Việt Nam cho thấy sự có mặt của nền văn hoá Óc Eo qua các di chỉ đã phát hiện phân bố trên địa bàn như Bàu Thành (Long Điền), Suối Nghệ (Châu Đức), Phước Hoà, Tân Hòa, Tân Phước (Tân Thành) và thành phố Vũng Tàu.
 
Từ thế kỷ VII đến trước thế kỷ XVII, trước khi người Việt đến định cư ở Bà Rịa Vũng Tàu và cả vùng Đông Nam Bộ, vùng đất này được xem như vùng đệm giữa hai khối Chăm và Chân Lạp. Cư dân bản địa ở đây có người Mạ, Stiêng, Chơ Ro. Quá trình hình thành của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gắn liền với những sự kiện thăng trầm của lịch sử trên 300 năm nay. Vào thế kỷ 16 - 17, trên vùng đất người Mạ trước đây người Việt đã đến khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp.
 
 Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, lập Dinh Trấn Biên gồm 4 tổng, trong đó tổng Phước An nay là Bà Rịa Vũng Tàu. Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) lập phủ Phước Tuy thuộc tỉnh Biên Hoà. - Hoà ước Nhâm Tuất 1862, triều Nguyễn nhường 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho thực dân Pháp. Người Pháp thành lập hạt thanh tra Bà Rịa gồm 7 tổng và 64 thôn. Năm 1867 đổi thành khu Tham biện Bà Rịa. Đến năm 1905 thành lập tỉnh Bà Rịa.
 
Nhà Nguyễn gọi Vũng Tàu là Thuyền Úc, thời Pháp gọi Cap Saint Jacques thuộc Bà Rịa. Năm 1929 tách Vũng Tàu lập thành tỉnh Cap Saint Jacques năm 1934 lại nhập về Bà Rịa cho đến năm 1945.
 
Sau 1975 Bà Rịa Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai. Năm 1979 tách Vũng Tàu Côn Đảo thành lập Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo. Đến 1991 Chính phủ quyết định thành lập tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, trên cơ sở nhập Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo với 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai.
 
Bà Rịa Vũng Tàu ngày nay là tỉnh có vị trí khá quan trọng thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Do có lợi thế ưu đãi của thiên nhiên, Bà Rịa Vũng Tàu có thế mạnh về thăm dò khai thác, chế biến dầu khí, sản xuất điện năng, khai thác chế biến thuỷ hải sản, dịch vụ xuất nhập khẩu thông qua hệ thống các cảng biển, cảng sông, dịch vụ du lịch. Kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt cây công nghiệp phục vụ chế biến xuất khẩu. Đời sống của nhân dân ngày càng được ổn định và nâng cao. Bên cạnh nguồn lực tự nhiên phong phú, nguồn lực con người năng động góp phần to lớn cho sự phát triển của tỉnh trong cả hai thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
Môi trường tự nhiên: Bà Rịa Vũng Tàu cũng như các tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ có lịch sử kiến tạo địa chất phức tạp, lâu dài, từ hàng triệu năm trước. Các nhà địa chất cho biết đây là vùng đất thuộc miền uốn nếp chuyển tiếp giữa địa khối Đà Lạt và miền sụt võng của châu thổ sông Cửu Long. Từ giai đoạn Tân kiến tạo (Neogen cách đây 25 triệu năm), nhất là từ cuối thời Poliocene (5 triệu năm) đến đầu Pleistocene (2 triệu năm) xảy ra những hoạt động kiến tạo mạnh mẽ có tác động đến cảnh quan môi trường hiện tại. Cùng sự nâng lên của khối núi Nam Trung Bộ, và Tây Campuchia, sự hạ thấp bù trừ giữa hai sơn khối đó, xảy ra sự phun trào bazan qua các khe nứt kiến tạo mạnh mẽ có ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan địa hình hiện nay.
 
Vào thời kỳ biến tiến Pleistocene giữa (700.000 năm) đã nhấn chìm một phần đồng bằng Nam bộ, đến Pleistocene muộn (125.000 năm) biển lùi, đồng bằng Nam bộ được nâng lên, lộ ra trầm tích Pleistocene sau này gọi là phù sa cổ vào khoảng thời Holocene trung kỳ cách ngày nay khoảng 6000 năm, hoạt động phun trào lớn xảy ra tạo thành lớp phủ bazan trẻ lên phần lớn bề mặt vùng đồng Nam Bộ. Đợt biển tiến Holocene trung đạt mức cực đại 5m, sau đó biển rút dần. Đến 3000 năm cách ngày nay biển rút xuống tương đương mức nước hiện tại. Quá trình tiến thoái dẫn đến việc hình thành các đồng bằng phù sa phía nam của tỉnh. Về cơ bản kiến tạo địa chất, địa hình, thuỷ văn đá khá ổn định như cảnh quan hiện nay.
 
Vào khoảng 4.500 đến 2.500 năm cách ngày nay, các bãi biển hiện đại đã được hình thành. Các đồng bằng thấp cửa sông phát triển trầm tích đầm lầy biển. Các thung lũng bị bazan chắn dòng cơ bản được lấp đầy tạo thành các hồ, đầm lầy, dọc theo bờ biển hình thành các cồn cát cao, tạo môi trường thuận lợi cho một số bộ phận dân cư từ vùng đồi gò di chuyển, định cư dần vùng thấp, gần các thềm sông, đồng bằng ven biển.
 
Địa hình: Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, địa hình Bà Rịa - Vũng Tàu có địa thế không cao lắm, chia cắt không mạnh, xu thế thấp dần về phía nam. Có bốn dạng địa hình cơ bản: miền đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ, miền đồng bằng ven biển, vùng sình lầy ngập mặn cửa sông ven biển.
 
Miền đồi núi thấp độ cao trung bình từ 100 đến 300m, được xem là địa hình cuối hệ núi và cao nguyên vùng Đông Nam Bộ. Địa hình phổ biến là đồi thấp, xen kẽ vài khối núi granít dựng đứng như núi Mây Tào, núi Dinh, núi Thị Vải, Châu Viên, núi Lớn, núi Nhỏ. Riêng Côn Đảo 88% là núi. Bậc thềm phù sa cổ cao từ 50m đến 100m, phía nam miền núi thấp, từ Tân Thành đến Xuyên Mộc tạo thành dải đất khá bằng phẳng, chủ yếu là đất xám, một số nơi xen lẫn đất bazan màu mỡ. Đồng bằng ven biển có độ cao dưới 50m tạo thành do phù sa sông, biển kết hợp. Dễ nhận thấy là phần đất bằng phẳng xen giữa núi Lớn, núi Nhỏ, ở Vũng Tàu qua rìa nam Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc là những cồn cát, bãi lầy. Vùng sinh lầy ngập mặn ven biển đang tiếp tục hình thành bởi lượng phù sa lắng đọng của sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Dinh, sông Ray. Là địa bàn phát triển của sú, vẹt, đước, đây cũng là nơi nhiều tôm cá và các loài giáp xác.
 
Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo, chế độ gió mùa, nóng ẩm, quanh năm. Bà Rịa Vũng Tàu có khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C đến 270C.
 
Sông ngòi Bà Rịa Vũng Tàu không có những sông lớn. Sông Thị Vải do ba dòng suối lớn hợp thành: suối Cả, suối Thái Phiên, suối Phú Mỹ chảy qua huyện Tân Thành ra Gành Rái. Sông Dinh do suối Hoài, suối Cầu hợp thành chảy qua vùng Bà Rịa đổ ra vịnh Ghềnh Rái. Sông Cái lớn nhất tỉnh, do sông Ray, sông Hoả, sông Bà Đáp hợp lại chảy qua Xuyên Mộc, Đất Đỏ đổ ra biển Đông.
 
Biển và bờ biển. Vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu có đặc tính nắng quanh năm chứa đựng nhiều tài nguyên quý, dầu khí, cát trắng và hải sản. Có nhiều bãi cát đẹp thuận lợi phát triển du lịch.
 
Động thực vật: Rừng tự nhiên còn rất ít, trên địa bàn tỉnh còn 2 khu vườn quốc gia Bình Châu - Phước Bửu và Côn Đảo còn rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, sinh vật biển đa dạng, phong phú.
 
Bà Rịa Vũng Tàu cũng như vùng Đông Nam Bộ, có điều kiện tự nhiên về mặt địa chất, địa hình, khí hậu, môi trường có nhiều đặc điểm liên quan đến đời sống của con người thời Tiền sử với những nét chính sau: Có nhiều loại đá khác nhau vừa đủ độ cứng, vừa thích hợp để chế tạo công cụ, không có hoặc gần như không có đá vôi nên rất ít hang động do đó di tích đều lộ ra ngoài trời. Bị san bằng và xâm thực mạnh mẽ, vỏ phong hoá phát triển, từ đó có nhiều loại đất sét, là nguyên liệu để làm gốm. Mặt khác cũng chính hiện tượng san bằng, xâm thực đã làm cho các di tích cư trú của người tiền sử khó bảo tồn.
 
LỊCH SỬ PHÁT HIỆN NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC Ở BRVT
 
Trước năm 1975 :
 
Từ những năm đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học Pháp đã phát hiện một số di vật, di chỉ thời Tiền - Sơ sử. Holbe đã phát hiện rìu đá không vai ở Phước Lễ (Bà Rịa), Phước Hải (Đất Đỏ), Bến Đầm (Côn Đảo). Sau đó là gốm cổ ở Hàng Dương, Côn Đảo. Cuộc khai quật và nghiên cứu Bàu Thành (Long Điền) của P. Paris là cuộc khai quật khảo cổ đầu tiên ở Bà Rịa Vũng Tàu. Trên cơ sở nghiên cứu hiện vật đi đến kết luận đây là nền văn hoá óc Eo. Tại nhà Mát, Long Phước (Bà Rịa), B. Rértegat, năm 1933 đã phát hiện một kiến trúc gạch và một số di vật khác như mảnh tượng đồng, chân tượng hiện đang tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Vũng Tàu, ở Công viên nhà Mát, đã tìm thấy sưu tập gồm 58 hiện vật gồm đồ trang sức bằng vàng và bạc. Sưu tập này sau đó đưa về trường Viễn Đông Bác Cổ năm 1926, nhưng đáng tiếc những hiện vật này đã bị thất lạc từ trước cách mạng tháng Tám. Theo Malleret thì sưu tập này thuộc nền văn hoá óc Eo. Tại Ghềnh Rái đã tìm thấy được tượng Phật bằng sa thạch. Tại Bến Đá Vũng Tàu còn phát hiện một tượng thần Visnu.
 
Trên đây là những phát hiện về dấu vết Tiền - Sơ sử, ngoài ra ở vùng phụ cận tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu còn có những phát hiện về các di chỉ Tiền - Sơ sử khác như: Năm 1897, Herry tìm thấy rìu vai ở Cái Vạn. Năm 1927 phát hiện mộ cự thạch tại Xuân Lộc. Từ năm 1960 - 1973, Saurin.E đã lần lượt cho công bố một loạt 10 địa điểm khảo cổ do ông phát hiện tập trung ở vùng Xuân Lộc, Dầu Giây. Ngoài ra còn nhiều phát hiện khác như mộ chum thời đại sắt sớm ở Xuân Lộc, trống đồng Hegơ loại I ở Thắng Tam.       
 
Sau năm 1975 :
 
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, giới nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam mới có điều kiện để mở rộng địa bàn nghiên cứu ra phía Nam. Từ năm 1975 - 1991 khi phần lớn đất Bà Rịa Vũng Tàu còn thuộc tỉnh Đồng Nai thì công tác khảo cổ học còn rất hạn chế. Các cuộc nghiên cứu khảo cổ chủ yếu được tiến hành quanh khu vực Bà Rịa: Năm 1984, Bảo tàng Đồng Nai khảo sát địa điểm Gò Dưa đã phát hiện một số hiện vật đá và gốm. Tại Láng Dài đã phát hiện tượng đá cụt đầu chạm theo phong cách Óc Eo. Năm 1984 phát hiện và thám sát di chỉ Bưng Bạc. Đến năm 1986 di chỉ này được khai quật với qui mô khá lớn. Từ năm 1991 trở lại đây công tác nghiên cứu khảo cổ học trên tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được đẩy mạnh từ khi thành lập tỉnh và Bảo tàng Tổng hợp. Trên cơ sở bản thân Bảo tàng cử cán bộ để sưu tầm khảo sát và kết hợp với các cơ quan chuyên môn nghiên cứu khảo cổ học đã có những phát hiện mới về khảo cổ học trên địa bàn tỉnh.
 
Trong năm 1992 - 1993 phát hiện hai bộ chày nghiền ở xã Suối Nghệ, Châu Đức phát hiện bộ sưu tập 12 rìu đá có vai tại Trại giam Bàu Lâm, Xuyên Mộc. Đến năm 1994 Bảo tàng Bà Rịa Vũng Tàu phối hợp cùng Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học, Viện khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh do tiến sĩ Phạm Đức Mạnh phụ trách điều tra khảo sát Bưng Bạc. Di chỉ đã được khai quật với qui mô lớn thu được một lượng hiện vật phong phú mang nhiều nét đặc trưng văn hoá độc đáo. Cũng trong năm 1994 cũng phát hiện một số di vật thời Tiền - Sơ sử trên địa bàn Bà Rịa, Long Điền, Đất Đỏ, Châu Đức. Đặc biệt trong đợt khảo sát này đã phát hiện di chỉ Bưng Thơm. Từ năm 1995 - 1996 tiến hành khảo sát di chỉ Bưng Thơm. Đến 1997 cuộc khai quật di chỉ được tiến hành trên qui mô lớn do tiến sĩ Vũ Quốc Hiền chủ trì.
 
Qua hàng loạt các phát hiện lẻ tẻ khắp nơi trên địa bàn Bà Rịa Vũng Tàu thì đến năm 1998 Bảo tàng Bà Rịa Vũng Tàu kết hợp với Trung tâm Khảo cổ học Thành phố Hồ Chí Minh điều tra các địa điểm ven sông Thị Vải ở khu vực huyện Tân Thành. Đoàn khảo sát đã phát hiện được 10 gò nổi ven sông có dấu vết Tiền - Sơ sử, trong đó đáng chú ý có Gò Cá Sỏi. Cuộc khai quật di chỉ này được tiến hành ngay sau đó do tiến sĩ Bùi Chí Hoàng chủ trì.
 
Tháng 9 năm 1999, Bảo tàng Tổng hợp đã phối hợp cùng Viện Khảo cổ tổ chức khai quật di chỉ Hòn Cau. Cuộc khai quật này do tiến sĩ Nguyễn Trung Chiến chủ trì. Đến tháng 8 / 2001, khu di tích mộ táng tại cồn Hải Đăng, Côn Đảo được khai quật.
 
Đầu năm 2002, qua khảo sát dọc sông Thị Vải trên địa bàn huyện Tân Thành tiến sĩ Phạm Thị Ninh, Viện Khảo cổ đã phát hiện một số địa điểm có di chỉ tiền sử như Gò Cây Me, Gò Cây Chôm, Gò Bảy Mộ, Gò Quát Trong, Gò Quát Ngoài. Cũng trong năm 2002, trong chương trình phối hợp giữa Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Tổng hợp Bà Rịa Vũng Tàu do tiến sĩ Vũ Quốc Hiền làm trưởng đoàn đã tiến hành điều tra khảo sát, lập bản đồ di tích khảo cổ học tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Qua đợt khảo sát này đã thu được một kết quả tốt, mở ra triển vọng mới về nghiên cứu khảo cổ học tiền- sơ sử trên địa bàn tỉnh.
 
Tháng 3/2003 Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) do tiến sĩ Vũ Quốc Hiền chủ trì tiến hành khai quật khảo cổ học di chỉ Gìông Lớn thuộc thôn 3, Rạch Gìa, xã Long Sơn, Thành phố Vũng Tàu. Dựa trên chất liệu cũng như các loại hình hiện vật, các nhà chuyên môn đã bước đầu nhận định đây là loại hình di chỉ khảo cổ mộ táng, có niên đại cách ngày nay trên 2.000 năm, tương đương với di tích Gìông Cá Vồ ở huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
4.727.135