Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ Tin tức
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện tra cứu
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 

Liên kết Website
Nguyễn Quyền - nhà chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục- những năm tháng tù đày ở Côn Đảo

                                                                                                                                             Nguyễn Bảo Trân 

       Nguyễn Quyền sinh năm 1869, vốn xuất thân là một Nho sĩ thanh bần, quê ở làng Thượng Trì tục gọi là làng Đìa, xã Đại Mão, nay là xã Thượng Mão, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông thi đỗ Tú tài, khoa Tân Mão (1891), sau đó được bổ giữ chức Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn nên thường gọi là Huấn Quyền. Là một thanh niên yêu nước, làm giáo chức ở tỉnh biên giới, có điều kiện tiếp xúc với tân thư, tân văn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản…Ông cho rằng muốn cho dân giàu nước mạnh thì điều quan trọng là phải bỏ lối học tập “tầm chương trích cú” khoa cử mà phải mở trường học phổ biến kiến thức khoa học, lập xưởng công nghệ, mở hiệu buôn, cải tổ quân sự…Được giác ngộ tư tưởng “duy tân” của thời đại, Nguyễn Quyền bèn xin từ chức, tìm gặp lại bạn bè, những người cùng chí hướng, bàn việc canh tân đất nước, mà việc đầu tiên là mở trường tân học tại Hà Nội. Là giám học của nhà trường Nguyễn Quyền kiêm nhiệm nhiều chức trách ở phần lớn công việc ở bốn ban chuyên môn của Đông Kinh Nghĩa Thục: Giáo dục, Tu thư, Tài chính và Cổ động. Ở các ban Giáo dục, Tư thư Nguyễn Quyền là một giáo viên dạy chữ Hán, góp phần biên soạn các sách giáo khoa Quốc văn, Sử ký, Địa lý, Luận lý. Ông nói rõ: “Mục tiêu căn bản của Đông Kinh Nghĩa Thục là đào tạo nên những người hữu dụng, duy có lớp Trung học, Đại học thì học  chữ Pháp. Chữ Hán, còn từ Trung học, Tiểu học, bất cứ nam, nữ đều học Quốc ngữ. Nhưng lớp trên, lớp dưới cũng vậy, chỉ cốt học để làm dân chứ không học lối từ chương, khoa cử là cái độc ngày xưa còn lại, chúng tôi ghét lắm!”. Trong những buổi diễn thuyết ở các địa phương, ông cũng nhắc nhở đồng bào: ”Người An Nam mình đang chìm đắm trong cảnh nô lệ. Nông dân, binh lính, ký lục, cu ly… tất cả đều phải hợp quần chung sức để giành lại độc lập bằng con đường tự do, bình đẳng theo gương Nhật Bản để trở nên ngang hàng với các dân tộc phú cường.”

 Năm 1908 nhân các vụ “Hà Thành đầu độc”, “chống thuế ở miền Trung”… thực dân Pháp đã “bủa lưới” quét hết các nhà Nho yêu nước, bắt giam tù, đày biệt xứ, thậm chí xử tử để trừ hậu họa cho nền đô hộ của chúng ở Việt Nam. Có lẽ ít có một nước nào trên thế giới mà chỉ trong vòng một năm trời (1908), hầu như tất cả các trí thức yêu nước có tên tuổi, không phải của một vùng mà tất cả các tỉnh, cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều bị tống ngục, Nguyễn Quyền và một số lớn chiến hữu của cụ bị kết án chung thân và đày đi Côn Đảo, đến nỗi cụ Trần Cao Vân đã có câu thơ thật đau xót: ”Xâu một xâu, ngó đạo thấy mà thương”. Mặc dầu vậy những tư tưởng duy tân cải cách của Nguyễn Quyền và của Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn được duy trì và phát triển ngay cả trong chốn lao tù Côn Lôn, nơi mà các cụ gọi là ”Trường học thiên nhiên”. Tại đây các sĩ phu yêu nước, trong đó có cụ Nguyễn Quyền lại tụ họp với nhau, giúp nhau học tập tiến bộ về tư tưởng, về văn hóa, tiếp tục rèn dũa về chí khí, nâng cao lòng yêu nước, sống lạc quan tin tưởng và hy vọng sẽ được tiếp tục góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuộc sống của cụ Nguyễn Quyền thời gian ngồi tù ở Côn Lôn đã được cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng ghi lại như sau: ”Bắc Hà Nguyễn quân Quyền (Tú tài Huấn đạo) tính thích thẳng và vu khoát, ưu nghị luận việc nước. Một người trọng yếu trong việc sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục và làm chủ Nghĩa Thục ấy. Năm 1907 ông ta lại có lập một nhà buôn nội hóa hiệu là “Tân Hông Hưng” đại lý bán đồ công nghệ trong nước. Tấn kịch “Hà Thành đầu độc” năm 1908 Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, ông cùng Lê quân Siêu (tức Siêu Tùng Lê Đại), Võ quân Ngọc Tiều (tức Ngọc Tiều Võ Hành), Dương quân Thiếu Niên (tức Thiếu Niên Dương Bá Trạc) đều bị tình nghi đầy ra Côn Đảo. Dương quân 7 năm còn 3 người kia đều chung thân. Nguyễn quân Đông Đường ưa bàn chủ nghĩa, thường dùng việc thuốc ví với việc nước, chia bạn đồng tội và tân đảng nước làm 3 phái: phái ôn hòa, phái bài ngoại, phái ỷ Pháp. Trong tù có thời giờ rảnh, Nguyễn quân tự chế ra một thứ chữ mới, cách viết đơn giản, cũng ngang như kiểu chữ Hán, Đông Đường chí vẫn lớn mà tài có sơ. Võ quân Ngọc Tiều thường kiếm điều diễu nhạo luôn mà Đông Đường không lấy làm điều. Khi cùng anh em nói chuyện, Đông Đường thường thuật chuyện “Đông Kinh Nghĩa Thục” và hiệu buôn “Tân Hồng Hưng” như là công nghiệp vĩ đại trên đời. Thời gian ở tù Côn Lôn, cụ Nguyễn Quyền cũng đóng góp với thi đàn một bài thơ chữ Hán khá diễm tình viết theo luật Đường, nhằm họa lại bài thơ của người vợ: “Thơ tiễn đưa chồng của bạn” Cụ Huỳnh kể lại xuất xứ bài thơ này như sau: ”Nguyễn quân Đông Đường cùng Hoàng Quân, Tăng Bí… đều là người trọng yếu, sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục. Nghĩa Thục đóng cửa Nguyễn và ba người bạn Thiếu Niên, Ngọc Tiều, Siêu Tùng đày ra Côn Đảo, còn Hoàng Quân được cho vào Huế (nhờ có cụ Hiệp Cao Xuân Đảo, là ông nhạc nhận bảo lãnh). Kế đó Hoàng Quân thi đỗ Phó bảng, bà Hoàng theo chồng vào Huế, bà Huấn có bài thi tiễn chân, gửi cho chồng ở Côn Lôn xem. Nguyễn quân có họa lại gửi về. Bài thi của bà Huấn có vẻ nồng nàn, tình tứ, so với bài Đường thi “Khuê chung thiếu phụ bất tri sầu…” tưởng không kém bao nhiêu. Cụ Huỳnh dịch ra Quốc ngữ bài thơ của bà Huấn như sau:

“Chỉ thêu nên gấm dám nài công

Bạn chị em ta mảnh má hồng

Mặt nước kia ai câu bọt bể

Chùa nhà riêng những quét hoa thông

Méo tròn thử vẽ vầng trăng bạc

Cay dắng xin vơi chén rượu nồng

Say tít lại cườ,i cười lại bảo

Ơn riêng này chớ phụ tình chung.”

Nguyễn Đông Đường họa lại:

“Cầu trời, cầu biển quản gì công

Dệt gấm khi nào mượn má hồng

Đuổi dập kình nghê muôn lớp sóng

Đứng trơ mưa gió một chùm thông

Hỏi han bác Lý vừng trăng bạc

Chờ đợi nàng Tô chén rượu nồng

Đắp lạnh quạt nồng ai đó tá?

Hiếu tình này vẫn hiếu tình chung.”

Tình nghĩa vợ chồng của ông bà Huấn cũng thật là đậm đà hương sắc thơ mộng. Bà Huấn cũng đủ tài “thơ văn” xứng với bậc “nho lưu khí tiết”. Rất tiếc là sau đó mấy năm, vợ chồng chưa kịp nhấp “chén rượu nồng” với nhau thì bà Huấn đã sớm “thất lộc” (1915) trong khi cụ Huấn Quyền đang phải bị quản thúc ở tận Bến Tre xa xôi. Khi Nguyễn Quyền được rời Côn Đảo cụ Huỳnh Thúc Kháng có làm bài thơ đưa tiễn:

I

Ngọn triều thương học chập chồng đưa

Lịch sử bình sanh miệng chép thừa

Ngày tháng trong tù dùng đáng giá

Tạo thêm chữ mới bổ hồn xưa.

II

Nòi giống hờn sau không đáy biển

Nhân quyền gánh nặng chứa dời non

Dân quyền chấp khởi chi bường học

Cần nhất nên chăm bước nhập môn.

         Năm 1910 Nguyễn Quyền được trả tự do với lý do “Cứu xét vô can” (Xét ra không can phạm tội gì). Tuy nhiên thực dân Pháp không cho về nguyên quán mà đưa ông đi an trí ở tỉnh Bến Tre. Nguyễn Quyền ở nơi đây song vẫn nặng lòng yêu nước, vẫn giao du với những chí sĩ yêu nước lục tỉnh, mở tiệm may tại thị xã Bến Tre, làm nơi gặp gỡ liên lạc với bên ngoài, vận động quần chúng góp tiền bạc gửi sang Nhật giúp Phan Bội Châu.Năm 1926 cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Huế vào Sài Gòn, có lẽ vào dự lễ tang cụ Phan Châu Trinh, tháng 4-1926, sau đó ghé xuống Bến Tre để thăm viếng các bạn “đồng tù” Côn Lôn và có tặng cụ Nguyễn Quyền bài thơ tỏ lòng quyến cố để làm kỷ niệm:

“Núi Nam, núi Bắc hai trùng

Tần Đảo mây bay nước chảy vòng

Tuốt kiếm quá quan gà gáy giục

Thét vang ngựa sắt ánh dương hồng”.

Năm 1941 Nguyễn Quyền bị bệnh bướu cổ, bệnh mỗi ngày một nặng. Trước khi mất, ông đọc cho Ba Biện, một đồng chí ở Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến thăm lời chúc ngôn sau đây: ”Tôi để tầm vào quốc gia, gần 40 năm từ Bắc chí Nam bôn tẩu, mục đích chỉ cần cho thiên hạ hòa bình, vạn dân an lạc. Nay tôi chắng may mắn nửa đường mất đi, từ đây về sau phần đồng bào chúng ta nên thận trọng bước đường tới, chớ nghĩ đến tôi. Thế là ý nguyện của tôi đủ lắm rồi.”

Vào 12 giờ đêm ngày 24 tháng 6 năm Tân tỵ (tức ngày 18/7/1941) ông từ từ trần. Mộ ông chôn ở làng Tân Xuân, xã Rạch Vạc, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp).

  

Tài liệu tham khảo: 

-        Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà XB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006.

-        Huỳnh Thúc Kháng, NXB Đà Nẵng, 2010.

 

print   Email   Top


Các tin khác:
Dấu tích văn hóa cổ trên vùng đất Nhơn Trạch (29-03-2019)
Nguyễn Quyền - nhà chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục- những năm tháng tù đày ở Côn Đảo (29-03-2019)
Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ) (20-11-2013)
Tư tưởng yêu nước Việt Nam - bảo bối của giữ nước và dựng nước (20-11-2013)
Giữ gìn trật tự xã hội đời Nhà Trần (20-11-2013)
Người Việt Nam đầu tiên đến nước Mỹ (20-11-2013)
LÊ THÁNH TÔNG (1442 - 1479) - Từ người con hiếu thảo đến ông Vua nhân hậu (20-11-2013)
CÓ HAY KHÔNG THỐNG CHẾ TRẦN ĐỒNG ? (20-11-2013)
Vai trò của Thanh Niên Tiền Phong trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 tại Và Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Phế tích thành cổ Sơn Tây (20-11-2013)
Những nét đặc sắc của cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Côn Đảo trong cách mạng tháng Tám 1945 (20-11-2013)
Nguyễn Ngọc Bảo với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 tại Vũng Tàu (20-11-2013)
Ngẫm nghĩ dưới chân công trình (20-11-2013)
Những Chiến Công Chống Ngoại Xâm Vùng Biển Dưới Thời Các Chúa Nguyễn Ở Đàng Trong (20-11-2013)
Góp thêm tư liệu về cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 ở Bà Rịa (20-11-2013)
Một vài yếu tố văn hóa đặc trưng của vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu có thể khai thác phục vụ du lịch và tổ chức lễ hội (20-11-2013)
Lịch sử - sự thật và sử học (20-11-2013)
Bàn về một chương trình nghiên cứu khoa học góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Chuyến đi đột phá, táo bạo của tàu 56 chở 44 tấn vũ khí vào bến Lộc An ngày 22 - 12 - 1964 phục vụ Chiến dịch Bình Giã (20-11-2013)
Các đội “Danh dự trừ gian” trong cao trào kháng Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa (20-11-2013)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Địa danh Côn Đảo qua tư liệu lịch sử

  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.640.356