Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ Tin tức
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện tra cứu
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 

Liên kết Website
Pháo đài Phước Thắng

 

PHÁO ĐÀI PHƯỚC THẮNG VÀ TRẬN ĐÁNH PHÁP TẠI PHÁO ĐÀI NGÀY 10/2/1859


                PHÁO ĐÀI PHƯỚC THẮNG

              Trong hơn 300 năm hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ, Vũng Tàu luôn giữ vị thế quan trọng về kinh tế, quân sự, an ninh quốc phòng. Nằm án ngữ ngay cửa vào ra Nam bộ và trên đường giao thương bắc nam, nên Vũng Tàu xưa là nơi dừng chân của tàu bè qua lại.

             Về mặt quân sự, Vũng Tàu như là một cánh cửa kiểm soát con đường thủy để vào Gia Định – Sài Gòn. Tác giả Trịnh Hoài Đức khi nói về vùng đất Mô Xoài (Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay) trong cuốn Gia Định thành thông chí đã viết: “Đất này dựa lưng vào núi, quay mặt ra biển, rừng rậm tre cao, trên có tuần trường để chiêu dụ bọn man mạch đến đổi chác, dưới có quan tân để xem xét ghe thuyền lúc đi ra biển. Đường trạm thủy lục giao thông thổ sản núi rừng cung cấp. Chế ngự Đê man phòng ngừa đạo tắc, có huyện nha, đạo, thủ chia giữ nhiệm vụ, vẫn là địa hạt xung yếu thứ nhất…”. Chính vì thế, các vua Nguyễn đều quan tâm phòng thủ nơi miền biên ải này, cho xây dựng ở đây những tuyến phòng thủ, một trong số đó là pháo đài Phước Thắng.

             Sự kiện khởi đầu cho việc hình thành pháo đài Phước Thắng là tháng 8 năm 1788 (âm lịch), Nguyễn Ánh cho “Đặt đài hiệu lửa ở các tấn Cần Giờ, Đồng Trạch, Vũng Tầu. Sai Nguyễn Văn Trương đem thủy quân đi tuần các cửa biển”[1]. Điều  này cho thấy vị trí chiến lược quan trọng của Vũng Tàu trong cuộc chiến đấu giành lại vương quyền của nhà Nguyễn. Trong thời kì này, đài phong hỏa có nhiệm vụ đốt lửa báo tin cho các đồn xung quanh và bên Cần Giờ biết để bảo vệ Gia Định và Nam kì trong các cuộc đột kích của quân Tây Sơn.

Đến năm 1796, Nguyễn Ánh tiếp tục cho “Sửa năm đài phong hỏa (nơi đốt lửa để báo tin nguy cấp) ở Vũng Tàu, Tắc Khải, Thùy Vân, Xích Lam và Ma li”.[2]

             Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, đặt kinh đô tại Phú Xuân, Huế, tập trung xây dựng đất nước và chú trọng phòng thủ ở các hải đảo và miền biên ải xa. Để kiểm soát và bảo vệ vịnh Gành Rái, cửa biển Cần Giờ, tàu bè đi lại qua cửa biển này không bị cướp bóc, vua Gia Long đã lập 3 thuyền binh đến trấn giữ ở vùng đất Vũng Tàu. Đồn này đặt dưới quyền chỉ huy của một viên Thủ ngự, có 1 người thủ biên giúp việc. Những đội quân đóng ở đây có nhiệm vụ bảo vệ đầu mối giao thông, vận tải từ Huế qua Vũng Tàu đến Gia Định, chống lại bọn hải tặc thường vào quấy nhiễu vùng biển.

             Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), tình trạng giặc cướp không còn, vua cho giải ngũ số quân này với phần thưởng là vùng đất họ đã có công trấn giữ. Tuy nhiên, triều đình vẫn quy định dân ba thuyền phải có trách nhiệm giữ gìn an ninh vùng biển Vũng Tàu. Để tạo điều kiện thuận lợi cho những ngày đầu lập nghiệp, triều đình miễn mọi thứ thuế cho họ. Ba ông đội chỉ huy ba thuyền đã tổ chức khai phá và lập ra ba làng lấy tên Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam. Ông Phạm Văn Dinh cai quản làng Thắng Nhất. Ông Lê Văn Lộc cai quản làng Thắng Nhì. Ông Ngô Văn Huyền cai quản làng Thắng Tam. Sau này, ba ông được thờ tại ngôi Tiền hiền ở ba ngôi đình của ba làng nói trên, trong đó đình thần Thắng Tam thờ thần hoàng là ông đội Ngô Văn Huyền. Có lẽ vào khoảng thời gian này đã diễn ra quá trình chuyển đổi từ đơn vị thuyền sang đơn vị làng, từ chế độ ngụ binh ư nông, chế độ quân quản bảo vệ cửa biển quan trọng Cần Giờ sang chế độ dân sự. Tất nhiên sự chuyển đổi đó chỉ là về phương diện hành chính và khi có việc vẫn cần đến sự giúp sức của dân ba làng Thắng. Điều này được  nhà vua quy định và chứng minh qua thực tế trận đánh tại pháo đài Phước Thắng.

Tháng 2 năm 1824, vua Minh Mạng cho đổi tên “thủ Vũng Tàu làm thủ Phước Thắng” thuộc tỉnh Biên Hòa, đây cũng là lần đầu tiên tên gọi Phước Thắng xuất hiện. Đồn Vũng Tàu được củng cố, mở rộng thêm và đổi tên thành Phước Thắng Bảo (Bảo là từ chỉ những tòa thành xây bằng đất, nhưng cũng có tòa xây bằng đá, tùy vật liệu xây cất ở địa phương).

            Trong suốt thời kì ở ngôi của mình, vua Minh Mạng rất quan tâm đến mặt quân sự. Nhiều lần đích thân vua ra thao trường chứng kiến việc luyện tập của quân đội. Đồng thời, vua Minh Mạng cho lập đồn ải ở những nơi hiểm yếu trong nước, còn ngoài biển thì lập các pháo đài.

            Khi bàn đến hình thế sông núi Gia Định, sau thời gian đi tuần tra về, Bố chính Gia Định là Hoàng Quỳnh đã thưa với vua Minh Mạng: “Cửa biển Cần Giờ đối ngạn với cửa biển Phúc Thắng thuộc Biên Hòa, thuyền vào cửa, tất phải qua Phúc Thắng trước rồi sau mới chuyển đến Cần Giờ. Lấy địa thế mà nói, thì đồn Phúc Thắng là bảo chướng (chắn giữ) của đồn Cần Giờ, cũng nên lập pháo đài để nghiêm việc phòng bị. Vua cho là phải, sai Biên Hòa xây đắp pháo đài đồn cửa biển Phúc Thắng”. Đó là năm 1839 - năm Minh Mạng thứ 20.  Pháo đài Phước Thắng được “xây ở ghềnh đá Ngọc Ngưu thuộc địa phận đồn, dưới, xây bằng đá núi, trên xây gạch. Khi xây xong, phía trước đặt 6 cỗ súng Hồng y, tả hữu mỗi bên đặt hai cỗ súng phách sơn, 1 cỗ súng quá sơn. Thuốc súng và đạn, mỗi cỗ 100 phát. Phái một suất đội, 5 pháo thủ và 40 biền binh thuộc tỉnh hiệp cùng viên tấn thủ canh giữ, cứ mỗi tháng 1 lần thay đổi”[3]. Nhiệm vụ của pháo đài là phối hợp với các thành lũy bên Cần Giờ và các pháo đài được bố trí dọc sông Lòng Tàu để bảo vệ tuyến đường thủy vào thành Gia Định.

           Nói về hình dáng và kích thước của pháo đài, trong cuốn sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán biên soạn, tại trang 65, tập 5 đã ghi về bảo Phước Thắng như sau: “Ở núi Trâu nằm (Ngọa ngưu) của ghềnh Rái, năm Minh Mệnh thứ 20, xây theo hình vọng nguyệt, chu vi 44 trượng 8 thước, cao 6 thước 3 tấc, mở một cửa gọi là pháo đài….nắm giữ nơi hiểm, giữ vững biên cương”.

Đến năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) pháo đài Phước Thắng được “cải tên thành Bảo Chấn, có thủ sở, để cử quan yếu, củng cố biên cương”. Sang đời vua Tự Đức (1847 – 1883) Bảo Chấn đổi lại tên cũ Phước Thắng bảo như thời vua Minh Mạng.

           Như vậy, dựa vào vị trí địa lý, mặt bằng xây dựng và giá trị địa hình của đồn Vũng Tàu (đời vua Gia Long), Phước Thắng bảo (đời Minh Mạng), Bảo Chấn (đời Thiệu Trị) và Phước Thắng bảo (đời Tự Đức – lấy lại tên theo thời vua Minh Mạng) chính là khu đất Bạch Dinh ngày nay. Bởi vì, sau khi đánh chiếm được pháo đài Phước Thắng đến trước khi pháo đài bị san bằng để xây dựng tòa nhà Villa Blanche là nơi nghỉ ngơi cho Toàn quyền Paul Doumer, Pháp còn thấy ở đây có trại lính Nguyễn cũ làm bằng gỗ lợp lá dừa và những khẩu pháo cổ. Tùy vào từng thời kì lịch sử, chức năng nhiệm vụ của pháo đài có sự thay đổi, khi Nguyễn Ánh chiến đấu với quân Tây Sơn, pháo đài là nơi phát tín hiệu lửa báo cho các đồn lũy lân cận và Cần Giờ biết để ngăn chặn các cuộc đột kích của quân Tây Sơn. Trong buổi đầu lập lại hòa bình của nhà Nguyễn, nạn hải tặc hoành hành, pháo đài là nơi canh giữ bảo vệ cho thuyền bè qua lại giao thương. Đến các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đất nước ổn định, pháo đài trở lại chức năng chính của mình là trấn ải nơi biên cương hiểm yếu. Điều này khẳng định lại một lần nữa vị trí chiến lược quan trọng của pháo đài Phước Thắng nói riêng và Vũng Tàu nói chung trong hành trình bảo vệ và xây dựng đất nước.

           Về mặt quân lực: Đứng đầu đồn Phước Thắng là một Tấn Thủ, trật Tòng Ngũ phẩm Võ ban (chỉ huy chung) thường gọi là Cai đội, quân thường trực có 40 người và binh giữ phụ là 10 người. Ngoài ra, dân ba thuyền Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam có trách nhiệm lập thành các đội hỗ trợ cho bảo Phước Thắng khi cần đến. Có thể hiểu một cách đơn giản là vào thời bình, khi đất nước không có chiến tranh, Phước Thắng bảo có nhiệm vụ trấn ải, canh phòng, tuần tra khu vực Vũng Tàu, cửa biển Cần Giờ. Số binh lính thường trực là trên 50 người và người đứng đầu chỉ huy canh phòng là một viên cai đội, điều này là phù hợp với chức vụ và số binh lính thường trực đã được ghi trong các tài liệu về quân sự nhà Nguyễn. Nhưng khi có chiến tranh thì ngoài 50 lính thường trực sẽ bổ sung thêm lực lượng dân của ba phường Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam.

           Về trang bị: Trang bị vũ khí quân đội thời Nguyễn thua kém xa so với lực lượng vũ trang các nước tư bản phương Tây, nhưng để chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân bảo vệ chính quyền phong kiến thì nó đủ sức. Trang bị cho pháo binh có khá hơn với các loại súng lớn thần công (đại bác), súng nhỏ thạch cơ điểu thương.  

           Pháo đài Phước Thắng khi xây xong được trang bị 6 cỗ súng Hồng y đặt phía trước, hai bên tả hữu đặt hai cỗ súng phách sơn và một cỗ súng quá sơn. Thuốc súng và đạn mỗi cỗ 100 phát.

Súng thần công trang bị tại pháo đài được đúc bằng kim loại: đồng, gang thép, nòng trơn không rãnh xoắn, đặt trên bệ cố định, chỉ hiệu chỉnh được tầm và chỉnh hướng chút ít nếu đặt trên những bệ có con lăn. Tầm bắn của súng rất hạn chế, hiệu quả khoảng từ 1200m trở lại. Tốc độ bắn chậm vì phải nhồi thuốc và nạp đạn từ đầu nòng. Đạn của súng thần công là những viên bi hình cầu trọng lượng khoảng 5kg, chất liệu là sắt, gang. Mỗi khi bắn, trước hết phải luồn dây ngòi qua lỗ mồi lửa cuối thân súng, sau đó nhồi thuốc phóng thật chặt vào cuối nòng súng rồi nạp đạn gang vào phía trên thuốc, khi châm ngòi phát hỏa dẫn lửa tới khối thuốc nhồi, năng lượng phát nổ sinh áp lực mạnh, tống viên đạn ra khỏi nòng súng bằng sức đẩy của thuốc nhồi hướng đến mục tiêu. Sức công phá không mạnh, song với trình độ thời bấy giờ thần công đã là một hỏa lực lợi hại có danh tiếng đối với nhà binh.

Hai khẩu súng còn lưu giữ được từ pháo đài hiện nay đang đặt ở phía trước sân tòa nhà Bạch Dinh, nòng hướng thẳng ra biển về phía Cần Giờ đều thuộc loại súng lớn, cỡ nòng 162mm, mỗi khẩu nặng xấp xỉ 1.500kg, dài 2,4m. Đầu miệng nòng có mấu đầu ruồi, trên lưng nòng có chỗ lắp thước ngắm, đuôi lòng có chỗ lắp bộ lẫy cò, có lỗ dẫn lửa ăn thông vào bọng thuốc. Một khẩu được đúc vào năm 1835, một khẩu đúc năm 1837, có thể là dân ta đúc, nhưng có kĩ thuật viên người Pháp tham gia, phần cuối nòng của cả hai khẩu đều thấy có khắc dòng chữ số theo tự mẫu la tinh cho biết năm đúc, trọng lượng và một địa danh có lẽ là chữ Pháp, nhưng không trùng với tên 8 xưởng đúc pháo của Pháp ở thế kỉ thứ 19 mà chúng ta đã biết. Năm 2006, hai khẩu súng này được sử dụng trong lễ hội bắn súng thần công khai hội festival biển, tái hiện lại một thời lịch sử hào hùng của pháo đài Phước Thắng.

 

           TRẬN ĐÁNH PHÁP TẠI PHÁO ĐÀI NGÀY 10 THÁNG 02 NĂM 1859

           Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Trung tướng hải quân Rigault de Genouilly đã nổ súng xâm lược nước ta tại cửa Hàn (Đà Nẵng). Tuy nhiên, sự kháng cự quyết liệt của quân triều đình, chiến thuật vườn không nhà trống và khí hậu khắc nghiệt ở miền nhiệt đới đã làm cho quân Pháp thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh. Sau 5 tháng đánh chiếm, quân Pháp không đạt được mục đích, không thể vượt qua Đà Nẵng vào Huế để bắt triều đình Nguyễn đầu hàng, quân lính chết nhiều do chiến đấu, do bệnh tật (kiết lị, cảm cúm, thương hàn, sốt rét), thiếu lương thực, rau xanh. Pháp buộc lòng phải chuyển sang chiến thuật đánh lâu dài và tìm một con đường khác để xâm chiếm Việt Nam. Pháp chọn Gia Định là nơi tiếp theo để xâm nhập, vì: “Nam kì trong mắt người Pháp là nguồn dự trữ lương thực của cả nước, Sài Gòn là trung tâm buôn bán ngay giữa một vùng phì nhiêu nhất…chiếm Sài Gòn có thể chấm dứt sự xuất khẩu gạo và thuế, điều này giáng một đòn ác liệt vào triều đình Việt Nam. Mặt khác, Sài Gòn lại nằm trên một con sông mà tàu chiến và tàu vận tải lưu thông được, dễ dàng cho việc tiến quân. Đánh chiếm Nam kì vào thời điểm ấy còn cắt đứt ngay được ý đồ xuất hiện của người Anh trong vùng hoạt động của Pháp”.[4] Chiếm được Gia Định và toàn bộ Nam kì sẽ làm bàn đạp đánh chiếm Cao Miên và các nước trong khu vực. Hơn nữa, lúc này Pháp phải hành động gấp vì thực dân Anh sau khi chiếm Singapo và Hương Cảng (Trung Quốc) cũng đang ngấp nghé chiếm Sài Gòn để nối liền hai cửa biển quan trọng trên.

           Ngày 2/2/1859, Pháp để lại ở Đà Nẵng một số quân, còn lại tập trung lực lượng rời cửa Hàn theo đường biển xuống phía Nam vào đánh Nam kì. Sau hơn 7 ngày di chuyển, chiều tối 9/2/1859, hạm đội với hơn 2.000 quân lính của liên quân Pháp – Tây Ban Nha do Trung tướng Rigault de Genouilly chỉ huy tập kết ngoài khơi Vũng Tàu. Hạm đội liên quân gồm 12 chiến thuyền: 2 hải phòng hạm (Phlégéton và Primauget), 3 pháo hạm (L’Avalanche, Meurthe và La Durance), 3 tàu vận tải quân sự và 1 thông báo hạm của Tây Ban Nha El Cano. Ngoài ra, Pháp còn huy động thêm 4 tàu buôn khác đến phục vụ lương thực, thực phẩm. Mục tiêu đánh phá là pháo đài Phước Thắng và một số đồn binh dọc biển, hai bên bờ sông Lòng Tàu vào Gia Định.

          Tháng 12 năm 1858, vua Tự Đức triệu các đại thần vào hỏi về sự thế Tây dương, vua nói với các đại thần: “Bờ biển Cần Giờ cũng là nơi quan yếu, không nên cho là Tây dương nó không đến mà sơ phòng”. Trần Văn Trung tâu rằng: “Cần Giờ là nơi quan yếu của Nam Kì…thuyền của Tây dương không được thỏa chí ở Trà Sơn, tất đến của biển ấy”[5]. Vì thế, triều đình đã tăng cường đề phòng, bổ sung binh lính và vũ khí cho các đồn binh Vũng Tàu. Khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha vào đến Vũng Tàu thì trận đánh tại pháo đài Phước Thắng diễn ra, binh lính không bị bất ngờ do một phần có sự chuẩn bị tinh thần chiến đấu trước đó.

Mờ sáng ngày 10/2/1859 (tức ngày mồng 8 tết Kỷ Mùi), các pháo hạm Pháp lần lượt nổ súng tấn công pháo đài Phước Thắng và các đồn lũy ven biển Vũng Tàu. Xuồng đổ bộ được sự yểm trợ của pháo binh đổ lính thủy đánh bộ lên bờ, tấn công vào tuyến phòng ngự Bãi Trước. Đô đốc Rigault de Genouilly đứng trên đài chỉ huy của kỳ hạm Phlégéton đốc chiến. Đại bác ở pháo đài Phước Thắng và hỏa lực ở các đồn lũy Bãi Trước, tấn Long Hưng bắn trả quyết liệt. 200 chuyến thuyền cùng hàng ngàn binh sỹ nhà Nguyễn đánh cận chuyến trên biển làm địch tổn thất nặng nề [6]. Trong khi các pháo thủ nã đạn vào các chiến hạm, bộ binh của ta phải đánh lui những đợt xung phong của lính thủy đánh bộ Pháp.

          Về số lượng quân lính tham gia trận đánh, nếu so với số quân lính thường trực tại pháo đài Phước Thắng thì có sự chênh lệch lớn nhưng đó là con số có thể chấp nhận được vì tương đối hợp lý. Thứ nhất, theo như trên đã trình bày, trước khi Pháp kéo quân vào Nam kì thì pháo đài Phước Thắng cùng các đồn lũy xung quanh được tăng cường thêm lính và vũ khí. Vả lại, số lượng binh lính chiến đấu này không chỉ tính riêng của pháo đài mà gộp cả các đồn lũy có sẵn từ trước ở Bãi Trước và các đồn lũy được xây dựng thêm trong quá trình tăng cường phòng ngự của nhà Nguyễn. Thứ hai, phải với số lượng quân như trên thì quân ta mới đủ sức chiến đấu đánh lại hơn hai ngàn liên quân Pháp – Tây Ban Nha trong cả ngày 10/2/1859 với vũ khí hạn chế trong tay.

Sau một ngày chiến đấu kiên cường dũng cảm của quân lính, pháo đài Phước Thắng bị đánh sập, nhiều chiến thuyền bị bắn chìm. Pháp đánh và chiếm được pháo đài Phước Thắng. Có thể đưa ra nguyên nhân thất bại trong trận đấu là do sự chênh lệch rất lớn giữa quân ta và Pháp: Liên quân Pháp – Tây Ban Nha được trang bị vũ khí hiện đại, tàu chạy bằng máy hơi nước, quân lính xâm lược thiện chiến, đại bác nòng có rãnh xoắn với những trái phá xuyên, nổ, tầm bắn xa. Trong khi lực lượng của ta không có loại đạn pháo gây nổ, sức công phá và hiệu quả sát thương thấp, khoảng cách giữa các lần lắp đạn và bắn chậm. Tầm bắn ngắn khoảng 1200m trở lại. Quân lính pháo binh không có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng pháo vì theo quân chế nhà Nguyễn, hàng năm quân lính chỉ được tập bắn một lần và mỗi tay súng chỉ có quyền bắn sáu viên đạn, ai bắn hơn số ấy phải bồi thường. Trang bị bộ binh cũng rất đơn sơ, phần lớn quân lính được trang bị bằng bạch binh (mã tấu, giáo mác, câu liêm, gươm, kiếm..).

 Mặc dù không chặn được bước tiến của Pháp, nhưng trận đánh tại pháo đài của những người lính, của nhân dân ba thuyền Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam đã kìm chân quân đội xâm lược hùng hậu, được trang bị vũ khí hiện đại suốt ngày 10/2/1859. Ý chí chiến đấu và lòng dũng cảm trong trận mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân Phước Thắng đã cổ vũ nhân dân Nam Kì đánh Pháp. Binh lính, nhân dân tại các đồn binh, pháo đài bố trí dọc theo sông Lòng Tàu đến thành Gia Định đứng lên chống trả cuộc tiến quân của Pháp quyết liệt. Phải mất gần một tuần lễ sau Pháp mới tiến vào được thành Gia Định, trong khi quãng đường thủy thông thường chỉ đi mất 10 giờ tàu chạy, với những tổn thất nặng nề: nhiều binh lính bỏ mạng, nhiều tàu chiến bị trúng đạn pháo, bị hư hại nặng.

            Khi nhắc đến vấn đề ai là người chỉ huy trận đánh Pháp tại pháo đài Phước Thắng, hiện nay có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng người chỉ huy trận đánh là Thống chế Trần Đồng. Quan điểm thứ hai cho rằng người chỉ huy trận đánh là lãnh binh Bùi Thỏa. Cá nhân tôi đồng ý với quan điểm thứ hai. Bởi vì, thứ nhất sự kiện trận đánh tại pháo đài Phước Thắng đã được sách Đại nam thực lục chính biên ghi lại như sau: “Quân của Tây dương bắn phá pháo đài Phúc Thắng. Lãnh binh là Bùi Thỏa lui quân đến đóng ở Bào Trâm. Việc ấy đến tai vua. Vua sai tỉnh thần là Nguyễn Đức Hoan phái lính đến giữ canh Gành Rái dàn quân hão ở phận rừng gần đây, phao lên là chuyên giữ đường bộ. Bùi Thỏa chuyên đi đến 2 đồn Phúc Vĩnh, Danh Nghĩa (Gia Định) tùy tiện mà đóng quân ngăn giữ”. Sau trận đánh tại Phước Thắng bảo, Pháp tiếp tục di chuyển theo sông Lòng Tàu vào Gia Định và gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân tại các đồn binh ở hai bên sông. “Bùi Thỏa chạy về giữ bảo Tam kì (Biên Hòa). Tuần phủ Biên Hòa là Nguyễn Đức Hoan đem thêm quân đến giữ pháo đài Tả Đinh (Biên Hòa)”. Tháng 12 năm 1859, vua “xử tội các viên biền 2 quân thứ thua trận. Trận thua ở Phúc Thắng tỉnh Biên Hòa: Lãnh binh quan là Bùi Thỏa phải cách lưu”[7]. Những sự kiện được ghi lại ở trên chứng tỏ người chỉ huy trận đánh tại Phước Thắng bảo là lãnh binh Bùi Thỏa, không phải là thống chế Trần Đồng và trong các cuốn sách được Quốc sử quán biên soạn về trận đánh này không hề nhắc đến tên nhân vật Trần Đồng. Sách Đại Nam thực lục chính biên là bộ sách lịch sử về triều đại nhà Nguyễn do chính nhà Nguyễn tổ chức biên soạn, ghi chép khá tường tận các sự kiện lịch sử của triều Nguyễn hay có liên quan đến triều Nguyễn về tất cả các phương diện: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tài chính, ngoại giao, khí tượng, các cuộc chiến tranh. Vì thế, thông tin về lãnh binh Bùi Thỏa được ghi chép trong cuốn sách này là khách quan và chính xác.

          Thứ hai, theo sử cũ đã ghi, đứng đầu pháo đài Phước Thắng là một tấn thủ, trật tòng Ngũ phẩm, thường gọi là Cai đội, cai quản trên 50 binh lính. Khi không có binh biến Cai đội là người chỉ huy việc canh phòng tại pháo đài. Trước khi Pháp nổ súng đánh chiếm pháo đài, triều  đình đã bổ sung binh lính và vũ khí cho các đồn binh ở Vũng Tàu. Vì thế, khi trận đánh diễn ra, thì Phước Thắng bảo đã có sự chuẩn bị trong việc phòng thủ và chiến đấu cả về số quân lính và người chỉ huy. Cai đội không đủ khả năng để chỉ huy trận đánh lớn nên người phù hợp để chỉ huy lúc này phải là một lãnh binh. Vì theo quan chế nhà Nguyễn, Lãnh binh là một chức võ quan, có hàm Tướng Quân (Chánh Tam phẩm võ ban), là người chỉ huy các lực lượng võ trang của một trấn, một tỉnh. Trong khi đó, Thống chế là một sĩ quan cao cấp, chỉ huy trưởng một doanh trại lớn, hoặc những tỉnh trọng yếu như Gia Định, Hà Tiên. Xét về vị trí chiến lược, tầm quan trọng, chức năng nhiệm vụ của pháo đài Phước Thắng thì một Lãnh binh đã đủ khả năng để chỉ huy trận đánh, không cần thiết đến một vị tướng lớn mang hàm Thống chế như Trần Đồng.

Vậy tại sao hiện nay có tồn tại quan điểm cho rằng người chỉ huy là Thống chế Trần Đồng. Đó là do các cuốn sách: Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985; Nguyễn Duy Oanh, Quân dân Nam kỳ kháng Pháp trên mặt trận quân sự và văn chương, 1859-1885, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994 và Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu, đều ghi lại nội dung: Đến sáng sớm ngày 10 tháng 2, Thống chế Trần Đồng, Tổng chỉ huy lực lượng thủy, lục quân nhà Nguyễn từ trên pháo đài Phước Thắng nhìn thấy đoàn tàu của Pháp đang tiến gần vào vùng biển Bãi Trước....đến chiều Thống chế Trần Đồng tử trận, pháo đài thất thủ. Sự kiện và cách gọi trên của Lịch sử Việt Nam có lẽ đã được dẫn từ tài liệu của người Pháp là Hstoire de L’Indochine, Paris, 1983; Histoire de I’expédition de Cochinchin en 1861, Lésopold Pallu de la Barriere, Paris, 1864 và La Conquête de I’Indochine, Paris, 1943. Sự kiện vịnh Hàng Dừa ngày 10/2/1859 được Hstoire de L’Indochine, (Paris, 1983) và một số tài liệu của người Pháp viết cụ thể như đã trình bày trên. Các tài liệu của Pháp đều không đề cập đến Lãnh binh Bùi Thỏa.

 



[1]. Đại Nam thực lục chính biên, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1963, tập 2, tr.80.

[2]. Đại Nam thực lục chính biên, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1963, tập 2, tr.251.

[3]. Đại Nam thực lục chính biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tập 21, tr.154-155.

[4]. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh BRVT, Lịch sử Đảng bộ tỉnh BRVT 1930 – 1954, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, tr.32.

[5]. Đại nam thực lục chính biên, đệ tứ kỷ, II, bản dịch, tập 28, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr.472.

[6]. Đảng bộ thành phố Vũng Tàu, Lịch sử Đảng bộ thành phố Vũng Tàu 1930 – 2000, Vũng Tàu, 2005, tr.34

[7]. Đại nam thực lục chính biên, đệ tứ kỉ III, bản dịch, tập 29, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, tr.9, tr.11, tr.88.

 

print   Email   Top


Các tin khác:
Pháo đài Phước Thắng (11-11-2019)
Dấu tích văn hóa cổ trên vùng đất Nhơn Trạch (29-03-2019)
Nguyễn Quyền - nhà chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục- những năm tháng tù đày ở Côn Đảo (29-03-2019)
Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ) (20-11-2013)
Tư tưởng yêu nước Việt Nam - bảo bối của giữ nước và dựng nước (20-11-2013)
Giữ gìn trật tự xã hội đời Nhà Trần (20-11-2013)
Người Việt Nam đầu tiên đến nước Mỹ (20-11-2013)
LÊ THÁNH TÔNG (1442 - 1479) - Từ người con hiếu thảo đến ông Vua nhân hậu (20-11-2013)
CÓ HAY KHÔNG THỐNG CHẾ TRẦN ĐỒNG ? (20-11-2013)
Vai trò của Thanh Niên Tiền Phong trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 tại Và Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Phế tích thành cổ Sơn Tây (20-11-2013)
Những nét đặc sắc của cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Côn Đảo trong cách mạng tháng Tám 1945 (20-11-2013)
Nguyễn Ngọc Bảo với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 tại Vũng Tàu (20-11-2013)
Ngẫm nghĩ dưới chân công trình (20-11-2013)
Những Chiến Công Chống Ngoại Xâm Vùng Biển Dưới Thời Các Chúa Nguyễn Ở Đàng Trong (20-11-2013)
Góp thêm tư liệu về cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 ở Bà Rịa (20-11-2013)
Một vài yếu tố văn hóa đặc trưng của vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu có thể khai thác phục vụ du lịch và tổ chức lễ hội (20-11-2013)
Lịch sử - sự thật và sử học (20-11-2013)
Bàn về một chương trình nghiên cứu khoa học góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Chuyến đi đột phá, táo bạo của tàu 56 chở 44 tấn vũ khí vào bến Lộc An ngày 22 - 12 - 1964 phục vụ Chiến dịch Bình Giã (20-11-2013)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ

  Địa danh Côn Đảo qua tư liệu lịch sử

  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô
 
 
Thống kê truy cập
5.876.570