Trang chủ Giới thiệu Tuyển dụng Liên hệ - Góp ý
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện hình ảnh
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Liên hệ - Góp ý
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 
 

Liên kết Website
Danh xưng Cap Saint Jacques có từ lúc nào ?
Trả lời câu hỏi trên của Lê Thị Trường Kiều (học sinh trường Nguyễn Huệ-TP.Vũng Tàu), tạp chí Xưa và Nay số 144 tháng 7/2003 viết: "Để tạo điều kiện khuyếch trương đô thị mới ra đời, ngày 1/5/1895, toàn quyền Đông Dương Harmand Rousseau ký Nghị định lập thành phố Cap Saint-Facques”... Đúng là thành phố mang tên Cap Saint Jacques lập ngày 1/5/1895, nhưng vẫn chưa trả lời câu hỏi "danh xưng" ấy có từ bao giờ.

Chúng ta biết rằng địa phận Vũng Tàu thuộc vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ bảy. Sau khi Phù Nam tan rã, địa phận Vũng Tàu khi thuộc Kampuchia, lúc thuộc Chămpa, không biết có địa danh gì.

Cuối thế kỷ 13, Châu Đạt Quan([i]) theo sứ đoàn Trung Quốc đi thăm kinh đô Angkor, lúc về kể lại rằng: "Rời bến Ôn Châu ở Triết Giang... đi ngang Giao Chỉ Dương (tức Biển Đông) và đến xứ Chiêm Thành. Ở đấy, nhờ thuận gió, trong vòng 15 ngày ta có thể đến thị trấn Chân Bồ, đó là biên giới xứ Chân Lạp". Thị trấn Chân Bồ có lẽ là TP.Vũng Tàu nay.

Cuối thế kỷ 13, biên thùy Đại Việt mới tới đèo Ngang. Năm 1306, vua Chiêm Thành dâng Châu Ô và Châu Rí để được thành hôn với Công chúa Trần Huyền Trân, đưa biên thùy tới đèo Hải Vân. Năm 1471, Lê Thánh Tông lấy núi Đá Bia (Phú Yên) làm ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Năm 1653, đất Khánh Hòa thuộc về Đại Việt. Năm 1697, đất Bình Thuận, năm 1698 miền Đông Nam Bộ rồi cả miền Tây Nam Bộ thuộc về bản đồ nước ta. Đi tới đâu, người Việt Nam đặt tên địa danh tới đó: khi thì hoàn toàn theo ngôn ngữ Việt Nam như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Gia Định v.v... lúc thì Việt hóa âm địa danh của dân tộc cũ như Nha Trang, Phan Thiết, Sài Gòn, Cà Mau, Cù Lao Chàm v.v…

Người Âu, Tây phát hiện ra Tân thế giới (1492) trước khi biết tường tận về Á Đông. Tới đầu thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha mới mở đường giao thương và truyền giáo sang Á Đông.

Năm 1513, Francisco Rodrigues ghi rõ lộ trình đi từ Malacca tới Trung Quốc. Người ta nghi rằng Rodrigues đã sử dụng một người dẫn đạo Mã Lai (Un Frilote Malais), thậm chí cả bản đồ Võ Bị Chí của của nhà hàng hải Trung Hoa nổi tiếng Trịnh Hòa, vì thấy hai lộ trình giống hệt nhau, chỉ thêm một số địa danh vừa theo tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Mã Lai (Tofonimie Malaise et Portugaise). Chúng ta tóm tắt để nhận diện địa danh: "Đi từ Pulo Condor (Côn Đảo) tới Terrade Champara, Terra Vermelha (tức Đất Đỏ thuộc xứ Chămpa)... Đi từ Terra Vermelha đến Pomta Da Berela (tức mũi Varella, ta gọi mũi Nại trên cao có hòn Đá Bia)... Đi từ Pulo Cotom đến Aynam (đảo Hải Nam thuộc Trung Quốc)... Muốn từ Pulo Cotom về cảng Timom thì phải hướng mũi tàu về phía Đông, nếu không, dòng nước biển sẽ cuốn trôi vào Emaaeada de Cauchy (tức vịnh biển Giao Chỉ, vịnh Bắc Kỳ).

Năm 1516, Ferão Peres de Andrade([ii]) phát kiến thực sự đường biển từ Malacca đi Trung Quốc, qua Chăm Pa (Choampa) sau khi nghỉ tại đảo Côn Sơn (Pollucandor), rồi tới vịnh Giao Chỉ gần Chi Na (Enseada de Concamchina).

Năm 1523, Duarte Coelho([iii]) đến thăm nước có nhiều hàng hóa mà người Trung Quốc gọi là Giao Chỉ (Cachó) và người Xiêm La hay Mã Lai gọi là Giao Chỉ gần Chi Na (Cochinchina) để khỏi nhầm lẫn với tỉnh Cochi bên Ấn Độ - tên đó còn được ghi là Cauchinchynan.

Francisco Pires là nhà hàng hải thu gom được 100 bản hải trình bên bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, do chính Pires và các nhà hàng hải khác thực hiện, trong khoảng thời gian thế kỷ XVI và tiền bán thế kỷ XVII. Nhưng tác giả Manguin([iv]) chỉ nghiên cứu 24 lộ trình trình liên quan đến duyên hải phía Đông Dương, đặc biệt lộ trình các số 15, 20, 21, 22 của Pires thực hiện từ năm 1647 đến 1649.

Để việc trình bày được giản dị, chúng tôi không dịch theo nguyên văn các lộ trình, mà chỉ ghi lại những địa danh Mã-Bồ (Malaise et Portugaise) từ Nam ra Bắc. Những địa danh này được ghi theo nhiều dạng phiên âm khác nhau và từ thế kỷ XVIII, nhiều nước Âu Châu cũng đến thám hiểm miền duyên hải nước ta ghi lại âm hoặc dịch nghĩa địa danh theo ngôn ngữ nước họ, đặc biệt, người Pháp tham gia việc định danh này đã Pháp hóa một số địa danh chính thống được dùng cho tới năm 1945, khi nước nhà độc lập. Đó là nhà hàng hải Mannevillette ấn hành sách địa lý Á Đông Neptune Oriental([v]) năm 1775. Sau đây là một số địa danh đáng chú ý, kể từ Nam ra Bắc:

 Tên Mã-Bồ / Tên Pháp / Tên Việt

Pullo Ube / Poulo Ubi / Hòn Khoai

Pullo Condor / Soulo Coudor / Côn Đảo (Côn Lôn)

Pullo Embiassi / Leo Deux Frares / Hòn Trứng Lớn-Hòn Trứng Nhỏ.

Sinco Chagas / Cap Saint –Jacques  /  Vũng Tàu (… )

 Trên đây chỉ là danh sách tiêu biểu, còn thiếu nhiều địa danh. Cách viết âm địa danh theo Mã-Bồ rất khác nhau, trong các văn bản và trên bản đồ cũng vậy. Trong bài này, chỉ sử dụng dạng phiên âm thông thường nhất. Mannevillette hay người khác đã Pháp hóa các địa danh Mã-Bồ, song vẫn dễ nhận diện và đọc ra. Thí dụ địa danh Mã-Bồ Pullo Ube -Hòn Khoai, thì Pháp ghi là Ile Poulo Ubi, vì không hiểu Pullo (tiếng Chăm là Pulau và người Việt phiên âm là Cù Lao) đã có nghĩa là Hòn Đảo, nên thêm từ Ile cho rõ. Cũng có những địa danh như Faifo (Hoài Phố) trên bản đồ Đắc Lộ([vi]) ghi là Hai Fo thì Pháp để nguyên. Còn vài trường hợp Pháp thay đổi hẳn địa danh, như đối với tên Saint Jacques- Cinco Chagas thì cần nói thêm cho rõ.

Đương thời, người Bồ Đào Nha hay dùng cụm từ Cinco Chagas để đặt tên cho tàu bè vượt biển hoặc tên núi đồi. Cinco Chagas có nghĩa là năm dấu thánh Đức Giêsu (4 dấu vết thương bị đóng đinh chân tay vào thập giá và 1 dấu bị giáo đâm bên sườn có trái tim). Họ dùng cụm từ đó đặt tên cho những ngọn núi Ông Cậu từ Bà Rịa tới mũi Thùy Vân nhưng rồi để chỉ núi Ghềnh Rái và Mannevillette ghi trong sách Neptune Oriental([vii]) là Sinkel-Jacques, sau đổi ra Saint-Jacques.

Tóm lại, địa danh Cap Saint-Jacques mới xuất hiện từ năm 1775 và bắt nguồn từ tên Cinco Chagas như đã giải thích vậy.

Nguyễn Đình Đầu

 



[i] . Châu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ ký, Lê Hương dịch. NXB Kỷ Nguyên Mới. Sài Gòn, 1973. Trang 21-22.

[ii] . Manguin, Les Portugais sur les Côtes du Việt Nam et du Campã. FEFEO. Paris, 1972. Trang 52 - 59

[iii] . (nt).

[iv] . (nt).

[v] . (nt).

[vi] . Bản đồ Đắc Lộ Carte du rogaume d'Annam (Extrait de la Relazione du P.Alexandre de Rhodes), 1650, Feuilles 10-11

[vii] . Manguin, sđd, trang 93

 

print   Email   Top


Các tin khác:
Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ) (20-11-2013)
Tư tưởng yêu nước Việt Nam - bảo bối của giữ nước và dựng nước (20-11-2013)
Giữ gìn trật tự xã hội đời Nhà Trần (20-11-2013)
Người Việt Nam đầu tiên đến nước Mỹ (20-11-2013)
LÊ THÁNH TÔNG (1442 - 1479) - Từ người con hiếu thảo đến ông Vua nhân hậu (20-11-2013)
CÓ HAY KHÔNG THỐNG CHẾ TRẦN ĐỒNG ? (20-11-2013)
Vai trò của Thanh Niên Tiền Phong trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945 tại Và Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Phế tích thành cổ Sơn Tây (20-11-2013)
Những nét đặc sắc của cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Côn Đảo trong cách mạng tháng Tám 1945 (20-11-2013)
Nguyễn Ngọc Bảo với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 tại Vũng Tàu (20-11-2013)
Ngẫm nghĩ dưới chân công trình (20-11-2013)
Những Chiến Công Chống Ngoại Xâm Vùng Biển Dưới Thời Các Chúa Nguyễn Ở Đàng Trong (20-11-2013)
Góp thêm tư liệu về cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 ở Bà Rịa (20-11-2013)
Một vài yếu tố văn hóa đặc trưng của vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu có thể khai thác phục vụ du lịch và tổ chức lễ hội (20-11-2013)
Lịch sử - sự thật và sử học (20-11-2013)
Bàn về một chương trình nghiên cứu khoa học góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Chuyến đi đột phá, táo bạo của tàu 56 chở 44 tấn vũ khí vào bến Lộc An ngày 22 - 12 - 1964 phục vụ Chiến dịch Bình Giã (20-11-2013)
Các đội “Danh dự trừ gian” trong cao trào kháng Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa (20-11-2013)
Khai thác các giá trị văn hóa phong phú, đặc sắc của Bà Rịa - Vũng Tàu cho hoạt động du lịch (20-11-2013)
Danh xưng Cap Saint Jacques có từ lúc nào ? (20-11-2013)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.164.175