Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ Tin tức
Trang chủ
Bảo tàng
Di sản Văn hoá
Văn hóa Vật thể
::::: Di tích lịch sử
::::: Di tích Cách mạng
::::: Di tích KT Nghệ thuật
::::: Danh lam thắng cảnh
Văn hóa phi vật thể
::::: Lễ hội
::::: Nghề truyền thống
::::: Di sản văn hóa
Nghiên cứu
Khảo cổ học
Cổ vật
Thông tin khoa học
Thư viện tra cứu
Di tích Nhà tù Côn Đảo
QLNN về DSVH
Tìm kiếm
Góc hình ảnh

 

Liên kết Website
Di Sản Hán - Nôm Bà Rịa Vũng Tàu
    Di Sản Hán - Nôm Bà Rịa Vũng TàuTrước hết, di sản văn hóa nói chung là toàn bộ kết quả sáng tạo văn hoá của các thế hệ trước để lại. Bao gồm di sản văn hóa hữu thể (Tangible) và di sản văn hóa vô thể (Intangible). Những di sản văn hóa hữu thể như đình, chùa, thành quách, đền, miếu, lăng mộ... Còn những di sản văn hoá vô thể thì có tính chất tượng trưng, không sờ nắm được, lưu truyền và biến đổi qua thời gian, gắn liền với sự sáng tạo liên tục của các thế hệ như : âm nhạc, ngôn ngữ, nghi thức, phong tục, tập quán... Di sản văn hóa hữu thể và di sản văn hóa vô thể gắn bó hữu cơ với nhau, như hai mặt của một chiếc lá. Vật chất gắn bó với tinh thần, góp phần tôn tạo lẫn nhau.
   
Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, di sản Hán Nôm là một bộ phận không thể thiếu trong di sản văn hóa của địa phương. Nó xuất hiện và cùng tồn tại, phát triển theo tiến trình lịch sử của mảnh đất này suốt trên dưới ba thế kỷ qua. Di sản Hán Nôm ra đời nhằm phản ánh những nhu cầu tôn giáo và tín ngưỡng của người dân, gắn bó trực tiếp với sự hình thành, xây dựng hệ thống đình chùa, miếu mạo... Theo khảo sát thực địa, hiện nay trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có trên 500 đền chùa, miếu mạo, đình thần, từ đường có di sản Hán Nôm. Đó là chưa kể đến di sản Hán Nôm còn được lưu giữ rải rác trong nhà dân, am cốc, mộ chí, nghĩa địa... với khối lượng lớn, đa dạng khó có thể sưu tập, thống kê đầy đủ. Trải qua thời gian, sự tàn phá của bom đạn chiến tranh và cả sự hủy hoại của người đời, không ít di tích lịch sử - văn hóa nói chung, di sản Hán Nôm nói riêng, đã bị xuống cấp, mất mát. Nhiệm vụ cần tiếp tục sưu tầm, gìn giữ và khai thác di sản Hán Nôm nhằm thực hiện trách nhiệm “bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc” đang được đặt ra một cách cấp bách. Là miền đất mới được khai phá trên 300 năm, di sản Hán Nôm nơi đây chắc chắn chưa thể có bề sâu và độ dày như một số địa phương khác ở phía Bắc. Nhưng những gì sưu tầm được, chẳng những đã giúp ích cho việc tìm hiểu lịch sử văn hóa và xã hội, con người của Bà Rịa - Vũng Tàu. Mà còn là một diện mạo, sự bổ sung không thể thiếu đối với kho tàng văn hoá chung của dân tộc. Là cơ sở góp phần không nhỏ trong việc nghiên cứu của các ngành khoa học khác như sử học, dân tộc học, kinh tế học, xã hội học...
Chỉ tính riêng tại 26 di tích lịch sử, văn hóa ở Bà Rịa - Vũng Tàu, đã có một di sản Hán Nôm đáng kể: 901 câu đối, 258 hoành phi, 17 sắc phong thần, 37 bài văn tế, 7 bài văn bia, 10 bài vị chữ Hán. Như đã thấy, nhiều nhất vẫn là câu đối. Có đình, chùa số lượng câu đối lên tới vài trăm như khu Nhà Lớn Long Sơn.
1. Câu đối: ở Việt Nam nói chung, chưa rõ có tự bao giờ. Chỉ có thể đoán định câu đối có từ khi văn học Trung Quốc tràn sang Việt Nam và từ khi người Việt Nam dùng chữ Hán. Ở Bà Rịa - Vũng Tàu câu đối xuất hiện muộn hơn nhiều. Nhưng chắc chắn câu đối cũng đã có ngay từ khi xuất hiện tầng lớp Nho học, những người Hoa và Việt biết chữ Hán đến vùng đất này khai hoang lập nghiệp. Cũng ngay từ đầu hẳn đã có đủ tính chất và nội dung thuộc về nội hàm chung của câu đối : “xuân liên” mừng Tết; “niên linh” mừng thọ, mừng tuổi; “đăng khoa” mừng thi đỗ; “từ vũ” mừng đền, chùa mới; “đệ trạch” mừng nhà mới; “giá thú” mừng đám cưới; “bách nghiệp” mừng các nghề; “ai vãn” phúng đám ma. Nhưng trong di tích lịch sử, văn hóa của Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ có loại câu đối “từ vũ”, tức là câu đối mừng đền, chùa, miếu mạo... Câu đối không chỉ là hình thức văn học thù tạc, giải trí, mà còn là cách thức mô tả hiện thực, bày tỏ thái độ yêu, ghét, là phương tiện đấu tranh với cái ác và cường quyền, thể hiện tinh thần yêu nước, thương nòi, có giá trị nhân bản sâu sắc...
Ngoài giá trị chung, người ta dễ dàng nhận ra những giá trị cùng sắc thái và nội dung riêng của câu đối ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Chẳng hạn, như chúng ta đã biết ở phần trên nhiều cách giải thích về nguồn gốc địa danh “Bà Rịa - Vũng Tàu”. Qua câu đối ở chính nơi đây, ta lại có dịp đối chiếu, so sánh về một cách giả thiết khác. Đúng sai ra sao chưa dám khẳng định, nhưng đã khắc thành câu đối, chắc chắn nó đã trở thành “dấu ấn lịch sử” ghi nhận cách hiểu của tiền nhân trong cuộc. Về địa danh “Bà Rịa” có 2 câu đối treo trước bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền ở đình Hắc Lăng ghi tạc: “Bà dã lại khai, đức trạch lưu quang tại cổ; Địa trù huy khải, vinh hoa phú túc ư kim = Ruộng bà khai lộc, đức trạch sáng lại thuở xưa; Đất địa mênh mông, vinh hoa đầy đủ ngày nay”.
Hai câu đối này một lần nữa nhằm giải thích hai chữ “Bà Rịa” là bắt nguồn từ chữ “Bà Địa” mà các tác giả của Hội Nghiên cứu về Đông Dương đã công bố trong Chuyên khảo về tỉnh Bà Rịa và TP Vũng Tàu. Còn về địa danh Vũng Tàu, tại miếu Ngũ Bang, trong số những câu đối bày tỏ tâm linh, tín ngưỡng muôn mặt, nổi bật tấm lòng vọng bái ơn trên của cư dân nơi đây, đã thấy có 5 câu đối nhắc tới 2 chữ “Đầu Đốn” :
“Thiên hiệu Nam bang giáng trạch minh di Đầu Đốn thị ; Hậu lai Trung thổ mộc ân bất chỉ Ngũ bang dân = Trời giúp Nam bang, ban phước há quên phố Vũng Tàu ; Hậu qua Trung thổ, ra ơn đâu chỉ khách Năm bang”
“Thiên địa dục anh linh, trường phát My Châu an hải quốc ; Hậu phi hoằng tý ấm, trạch phân Đấu Đốn hữu bang dân = Trời đất nảy anh linh, My đảo rạng điềm yên cõi biển, Hậu phi rộng che chở, Vũng Tàu chia lộc có dân bang”
“Thiên tích Nguyên quân, ngũ tọa mai huy vi thánh khuyết ; Hậu lâm Đầu Đốn thiên giam lan tảo tụng từ hàng = Trời tặng Nguyên quân, bảo tọa mai tươi ngời cửa khuyết ; Hậu tới Vũng Tàu, ngàn thư lan tảo tụng thuyền từ”
“Thiên đạo vô tư, hồn hợp cửu châu ân quảng bị ; Hậu linh bằng thác, bất phương Đầu Đốn miếu song khai = Thiên đạo không riêng, chín cõi đã chung ơn rộng khắp ; Hậu linh xin cậy, Vũng Tàu đâu ngại miếu hai ngôi”
“Thiên hậu phúc lâm Đầu Đốn cảnh ; Hậu từ tâm huệ Ngũ bang dân = Phúc của Thiên Hậu tới cõi Vũng tàu ; Tâm của Hậu bang phúc khách Năm bang”
Vậy nên, ngoài cách giải thích của Chuyên khảo về tỉnh Bà Rịa và TP Vũng Tàu và Di tích danh thắng Bà Rịa - Vũng Tàu như đã dẫn giải, di sản Hán Nôm của Bà Rịa - Vũng Tàu còn cho thấy một cách giải thích khác về nguồn gốc địa danh của TP Vũng Tàu : “Đầu Đốn” (âm Phúc Kiến đọc là thẩu tuân) có nghĩa là cúi đầu. Phải chăng do vùng đất này có “khối núi cuối cùng đột nhiên biến vào biển khơi bằng một mũi nhọn” giống như một cái đầu khổng lồ đang cúi xuống, cho nên những người Hoa đầu tiên đặt chân đến nơi đây đã đặt tên cho nó là “Đầu Đốn” ? Qua di sản câu đối của Bà Rịa - Vũng Tàu, bức tranh về thiên nhiên và con người nơi đây cũng hiện hình thật rõ nét. Đây là câu đối trong lăng Nam Hải bày tỏ niềm tự hào về một miền sông biển tươi đẹp và thanh bình :
“Thiên địa giáng hưu trưng, thế ngưỡng Nam lư phong thủy lợi ; Sơn hà giai xuân sắc, nhân bằng hải nhược dật tài nguyên = Trời đất tỏ điềm lành, đời mộ phương Nam giàu của cải ; Núi sông đều xuân sắc, người nhờ bể thuận sống ung dung”
Nói riêng về cảnh đẹp thiên nhiên, không chỉ là một hai câu đối có trong Nhà Lớn Long Sơn :
“Cao sơn lưu thủy thi thiên trụ ; Minh nguyệt thanh phong tửu nhất thuyền = Non cao nước chảy thơ ngàn ngọn ; Gió mát trăng thanh rượu một thuyền”
Trời đất yên hòa thì cái nghĩa vụ công dân của họ cũng được thực thi một cách thư thả, tự nguyện :
“Thuế thục cống tân, khuyến thưởng thị hành phi chỉ ; Tải kỳ Nam mẫu, châm quy cận duyệt viễn lai = Thuế đóng đủ đầy, việc khen thưởng tiến hành không ngớt ; Thóc chở từ ruộng, lời răn dạy gần hay xa đến”
“Sưu dịch đán hoàn, bội cốc nhất hào bất phạm ; Binh kỳ điềm túc liễn khu bán dạng oa tàng = Thuế định ngày xong, thóc lúa mảy lông không chạm đến ; Quân khi điểm đủ, ngựa xe nửa kẻ chẳng trốn đâu”
Về luật lệ và sự yên bình của làng xã, về cái nghĩa, cái nhân, về cách sống nếp sống và phong tục tập quán... thảy đều được bày tỏ, phản ảnh trong di sản câu đối phong phú và sâu lắng của Bà Rịa – Vũng Tàu :
“Long hải cố Nam bình, thiên thái địa ninh công luật trụ ; Sơn xuyên kiên quốc chính, quan thanh dân thuận sở hương cơ = Biển Long yên định phương Nam, trời mạnh đất bằng do luật làm trụ cột ; Sông Sơn vững vàng quốc chính, quan liêm dân thuận nhờ cơ sở là làng”
“Nhân nghĩa hoằng khai do đại lộ ; Nhẫn hòa phúc tải tổng trung môn = Nhân nghĩa mở toang theo cửa lớn ; Nhẫn hòa che chở thảy môn trung” (lấy nhân nghĩa, nhẫn nhịn , hiền hòa để che chở, xây dựng xóm làng)
“Phú quý bất dâm bần tiện lạc ; Nam nhi đáo thử thị hào cường = Phú quý không tham nghèo cũng thỏa ; Nam nhi đến thế cũng hào hùng”
“Trung hiếu dĩ truyền gia ; Khởi tất doanh kim phương nghĩ phú; Thi thư vi xử thế, hà tu nhĩ ngọc khả diên niên = Trung hiếu nếp nhà, há phải bạc vàng xưng phú quý ; Thi thư xử thế, đâu cần nhĩ ngọc để trường sinh”
“Sự bất tài tư chung hữu hối ; Khí năng nhất nhẫn khả vô ưu = Việc chẳng nghĩ nhiều sau sẽ hối ; Khí mà nhịn được mới không lo”
“Truyền gia vạn sự giai nghi nhẫn ; Giáo tử thiên phương mạc nhược cầu = Truyền lại nếp nhà với muôn việc đều nên nhẫn nhục ; Dạy con cháu biết trong nghìn cách cần nhất siêng năng” v.v...
Không ít câu đối ghi nhớ công ơn của những người “khai sơn phá thạch” :
“Tiền triết thừa hành ân truy viễn ; Vãng thành kế thế đức lưu phung = Tiền triết gầy dựng cơ đồ ơn khó trả ; Hậu sinh thành tựu trong đời đức còn thơm”
“Tiền khai cơ công thành thanh danh tại ; Hậu thừa hành hoành tráng đại quy mô = Trước khai cơ công thành danh toại ; Sau thừa hành hoành tráng quy mô”...
Tựu trung, quan niệm về nhân nghĩa, trung hiếu, cách sống ở đời, tuy bắt nguồn từ Nho, Phật, Lão, nhưng những yếu tố tích cực đó của các tôn giáo trên đã được cư dân Bà Rịa - Vũng Tàu kế thừa, phát huy biến nó thành phong tục tập quán mang đậm sắc thái địa phương.
Cùng với giá trị về tư tưởng, không ít câu đối đã đạt tới sự hoàn chỉnh về nghiêm luật, thể hiện trong sự đối chỉnh từ hai vế, đối chỉnh trong toàn bộ câu văn, từng phần, từng tiếng, đối chỉnh cả ý và lời... Khác với câu đối miền Bắc, câu đối ở miền Nam nói chung, câu đối ở Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng thường dung dị, ít dùng điển tích cầu kỳ mà vẫn gợi cảm và sâu lắng. Thử đọc :
“Đại tai càn, chí tai khôn, vạn vật tư sinh tư thủy ; Văn quyết mô, vũ quyết liệt, bách niên phi hiển phi thừa = Trời lớn thay, đất dày thay, muôn vật thác sinh từ đó ; Mưu của văn, sức của võ, trăm năm hiển hách lưu truyền”
“Phật chỉ u vi, du như vân quải sơn đầu, hành đáo sơn đầu vân hựu viễn ; Thiền cơ hạo đãng, kháp tự nguyệt lâm thủy diện, phác khai thủy diện nguyệt hoàn thâm = Phật chỉ nhiệm mầu, như mây ở đầu non, lên tới đầu non mây lại cách ; Thiềân cơ rộng lớn, tựa nguyệt trên mặt nước, khua tan mặt nước nguyệt còn sâu”.v.v...
Cùng với nội dung, câu đối của Bà Rịa - Vũng Tàu còn là một di sản văn hoá hữu hình thật đa dạng, phong phú và quý giá. Đối với người giàu có, câu đối được viết trên giấy, vóc, khắc trên gỗ sơn son thiếp vàng, hoặc khảm xà cừ. Đối với người nghèo, câu đối viết trên giấy hồng điều, hồng hoàng trang trọng rực rỡ. Đặc biệt các câu đối trong đền chùa miếu mạo... khắc trên đủ các chất liệu, từ gỗ, đá, đến đồng thau... càng làm tăng vẻ trang nghiêm của những nơi thờ phụng. Giá trị về nhiều mặt của hàng ngàn câu đối ở Bà Rịa - Vũng Tàu đã thật sự góp phần làm giàu có thêm cho hình thức văn học dân gian đặc biệt này.
2. Hoành phi: cũng là một thể loại chiếm vị trí nổi bật trong hầu hết các đình, chùa, miếu mạo... ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Có đình chùa, số lượng hoành phi lên tới hàng trăm. Những bức trướng liễn bằng gỗ hoặc bằng vải rực rỡ đã góp phần làm nên bộ mặt của những đình, chùa, miếu, mạo này. Chữ trên hoành phi thường rất ngắn gọn, súc tích. Trước hết và chủ yếu nhằm ghi nhận dấu vết, tên tuổi, đặc điểm nổi bật và công trạng của các vị thần gắn bó với nguồn gốc lịch sử của những nơi thờ phụng đó. Trên hết là bày tỏ sự tôn vinh, biết ơn, ngưỡng vọng của muôn dân đối với công đức của các vị thần mà mình thờ phụng.
Ở lăng Ông Nam Hải có các bức hoành Doanh công Nam hải, Đức thùy hậu duệ, Phúc ấm quần nhân, Chính trực thiên thu, Hồng ân phổ độ. Đền thờ Hùng Vương có các bức hoành : Nhị thủy danh lưu, Sơn trang động, Trần triều hiển thánh... Chùa Phước Lâm thì có các bức Hoành : Phật nhật tăng huy, Pháp hóa tam châu... Hoành phi trong đình Thắng Tam thì : Kính lai trí, Tế như tại, Ngưỡng thần ân. Đền thờ Đức Thánh Trần có các bức hoành : Thượng quốc công, Thượng đẳng thần, Lưu thiên cổ, Trần triều hiển thánh .v.v.. Có thể nói thế giới của những bức hoành thật thâm sâu, lời ít ý nhiều, nhất nhất bày tỏ cái đức, cái đạo làm dân, hết lòng thờ cúng các bậc bề trên thiêng liêng, cao cả.
Đọc chữ trên các bức hoành thật dễ nhớ, dễ nhập tâm, cứ thế mà đời nọ qua đời kia làm theo, ngưỡng vọng. Há đó chẳng phải là lưu danh hậu thế, bồi đắp nhân tâm ?
Dĩ nhiên, hàng trăm bức hoành, cũng như câu đối, còn là những di sản văn hoá hữu hình có giá trị, thể hiện muôn vẻ tài hoa thêu, chạm, khắc... của cha ông ; Sẽ phải tỏ lòng ngưỡng mộ trước những giá trị này, nếu ta đến thăm Nhà Lớn (Long Sơn), Đình Thắng Tam ở TP Vũng Tàu v.v…
3. Sắc phong: Một thể loại khác cho đến nay vẫn còn nhiều di bút trong các đền chùa, miếu mạo, trong cả các họ tộc, nhà dân ở Bà Rịa - Vũng Tàu là sắc phong - một loại văn bản hành chính của triều đình. Gồm sắc phong tước cho các quan, sắc dụ điều hành công việc, ban khen cho dân, phong tước cho thân tộc nhà vua và sắc phong thần. Săùc phong thần có loại do triều đình ban cho những người có công với dân với nước trong công cuộc chống ngoại xâm. Có loại ban cho các vị thần thuộc tín ngưỡng dân gian, những người có ân đức và công trạng lớn lao như cứu khổ, cứu nạn, khai hoang, lập ấp... được dân suy tôn, thờ phụng.
Sắc phong là sự xếp loại của triều đình về các thần (thượng hoặc trung đẳng thần). Văn chương của sắc phong khá quy phạm, định hình, thường xoay quanh một số nội dung : Đánh giá sức mạnh Hàm hoằng Quảng đại Chí đức, Anh mưu Duệ đoán, Dũng mãnh, Cương quả Hùng lược... của các vị thần ; ghi nhận công tích : Hộ quốc tí dân, Vĩ tích Hồng du, Bảo quốc định bang của các vị thần ; tôn vinh oai linh : Nẫm trứ linh ứng, Uy nghiêm dũng liệt... của các vị thần. Sắc phong Nữ thần thường ban khen thêm về sắc đẹp : Thanh tú kỳ tư dị sắc, Nghiêm nghị Tú hoà Mỹ chất và về đức hạnh : Trinh thuận, U nhân Trinh tĩnh Ôn hậu, Linh cảm Diệu thông, Mục uyên Hoằng bác...
Sắc phong như một thứ “ấn quyết quốc gia”, từ đó có thể biết được một cách chắc chắn cụ thể thời gian ra đời, sự biến thiên của các đình, chùa, miếu mạo theo các triều đại và niên đại khác nhau. Đồng thời thấy được sự đánh giá khác nhau của các triều đình về vị thần đó. Hết triều đại này đến triều đại khác, vị thần nào đó đều tiếp tục được sắc phong thì danh tiếng của ngôi đình, ngôi chùa đó càng cao. Sự thờ phụng của dân chúng đời này qua đời khác càng nồng hậu, linh thiêng.
Qua sắc phong ghi nhận công tích của thần còn có thể thấy được phong tục, tín ngưỡng và đời sống tâm linh của dân chúng một vùng hoặc nhiều vùng cùng ngưỡng mộ. Ví như thờ thần Đại càn Quốc gia Nam Hải, Nam Hải Cự tộc Ngọc lân, Thiên Y A Na, Thủy long Thần nữ... ở Bà Rịa – Vũng Tàu là như thế. Qua sắc phong còn có thể thấy được thái độ chính trị, khuynh hướng tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả trình độ văn hoá của các triều đại. Chẳng hạn : Lăng Ông Nam Hải đình Thắùng Tam thờ thần Cá Ông, lần lượt được phong 3 đạo sắc trong vòng 5 năm : Thiệu Trị năm thứ 5 (1845) ngày 27 tháng 11 và ngày 26 tháng 12 ; Tự Đức năm thứ 3 (1850) ngày 8 tháng 11 với nội dung, chữ nghĩa trước sau đại loại : Thần Từ tế Nam hải Cự tộc Ngọc Lân, giúp nước cứu dân từng nhiều lần hiển hiện linh ứng. Năm Minh Mệnh thứ 21, Thánh tổ Nhân Hoàng đế ta mừng Ngũ tuần đại khánh , đã vâng chiếu chỉ gia phong, chuẩn cho thăng trật. Ta nay vâng theo mệnh sáng của trời, nghĩ nhớ đức tốt của thần, tặng thêm là Từ tế Chương linh, chuẩn cho thôn Thắng Tam, huyện Phước An thờ phụng như cũ. Thần thì phải giúp đỡ che chở cho dân đen của ta. Kính đấy ! (Thiệu Trị năm thứ 5 (1845) ngày 27 tháng 11). Di tích văn hóa, đình chùa miếu mạo nào còn lưu giữ được nhiều sắc phong càng cổ bao nhiêu, càng giúp ích đáng kể cho công việc nghiên cứu của hậu thế bấy nhiêu. Là miền đất mới, sắc phong có được trong các đình chùa, miếu mạo của Bà Rịa - Vũng Tàu không nhiều, nhưng nó đã chiếm một tỷ lệ đáng kể trong kho tàng Hán Nôm hiện nay.
4. Văn tế: Theo điều tra, sưu tầm và đánh giá của chúng tôi, văn tế trong các đình chùa miếu mạo của Bà Rịa - Vũng Tàu cũng là một thể loại đáng kể, có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu di sản văn hoá quá khứ chung cũng như riêng. Với 37 bài văn tế còn lại, thiết nghĩ văn tế trong các đình chùa, miếu mạo của Bà Rịa - Vũng Tàu hẳn là chưa thể có được những phẩm chất xuất sắc cả về tư tưởng, giá trị nhân văn và sự toàn tích về văn chương. Thế nhưng, văn tế ở nơi đây, trong nội hàm của chúng, vẫn thể hiện khá trọn vẹn hiệu quả và sức mạnh đặc trưng thể loại của nó. Như đã biết, văn tế vốn là một thể loại có tính chất nghi lễ, có nguồn gốc lâu đời từ Trung Quốc, bao gồm các loại văn dùng để tế thần, tế thánh, tế sống, tế tà ma và các hình thức chúc thọ, chúc thăng quan tiến chức... Lâu dần về sau, văn tế bị thu hẹp là văn tế người chết. Sang Việt nam, văn tế dần dần biến thành một thể loại quan trọng.
Qua các thời đại đã sản sinh ra không ít bài văn tế có giá trị văn học cao, với nhiều hình thức phong phu, có thể là kiểu văn xuôi cổ, kiểu tán, thơ lục bát, song thất lục bát hay kiểu phú, biền ngẫu... Văn tế tao nhã, trang trọng, nhưng chủ yếu nhằm bày tỏ tâm trạng đau xót, tiếc thương của người sống đối với người chết, từ tình cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn đến sự gửi gắm xót thương đối với những anh hùng nghĩa sĩ hy sinh vì nghĩa cả. Vì thế văn tế đồng thời lại có tính chất trữ tình độc đáo. Văn tế thường trình bày theo hai nội dung : Trước hết về cuộc đời, công đức của người chết, sau đó là bộc lộ thái độ, tình cảm, tiếc thương của người sống trước giờ phút vĩnh biệt. Điếu văn có thể coi là một dạng biến thể của văn tế. Vì thế mà đối tượng của văn tế là cả cho những người sống và người chết. Nhưng theo tâm thức của người xưa, văn tế chủ yếu cốt để đọc cho người chết nghe, bởi người xướng tế bao giờ cũng tin rằng người chết có linh hồn. Họ chết đi nhưng linh hồn vẫn tồn tại, vẫn nghe được nội dung văn tế. Từ đó điếu văn ngày nay, đứng về phía tâm lý, tình cảm, người đọc cũng nghiêng về phía người chết nhiều hơn, dù biết rõ là đọc cho cả người sống nghe.
Rõ ràng, cả văn tế và điếu văn luôn xuyên suốt dòng chảy của thế giới tâm linh, bao trùm một không gian siêu thực, linh thiêng và huyền ảo. Dòng chảy và không gian ấy tuyệt nhiên không tồn tại ở các thể loại văn học khác. Mặt khác, với ý niệm “sống khôn thác thiêng” “sống gửi thác về”... đã vượt qua phạm trù tâm lý trở thành yếu tố tư tưởng trong một bài văn tế, điếu văn. Đồng thời qua đó, không gian của văn tế, điếu văn đồng hiện cả quá khứ - hiện tại và tương lai. Theo trật tự của nội dung gắn liền với thế giới tâm tưởng đầy xúc động. Quá khứ (của người đã khuất) bao giờ cũng chỉ có những điều tốt đẹp, đáng tôn thờ, kính trọng. Hiện tại là mất mát, tiếc thương còn tương lai là linh thiêng, cầu mong sự phù hộ độ trì cho những người đang sống.
Có điều cần lưu ý, văn tế cũng là một thể loại văn học, thật sự có hiệu quả trong việc bày tỏ niềm tiếc thương, cảm xúc chân thành của người viết và đọc văn tế. Nhưng văn tế lại không hướng tới việc mô tả, phản ảnh hiện thực khách quan một cách cụ thể như nó vốn tồn tại, mà là hiện thực được thăng hoa, phản chiếu từ tâm linh tác gia.,Cho nên nếu nhìn theo quan điểm tả chân hiện thực, có thể sẽ đánh giá văn tế là đơn giản, nghèo nàn. Cũng không thể vận dụng cách hiểu và phương pháp phân tích văn học thông thường trong việc đánh giá văn tế. Để rồi quy chụp cho sự “giao thoa” giữa người sống và người chết là duy tâm, siêu hình, mà cần phải đặt văn tế vào đặc thù tiếp cận mới thấy hết được sức mạnh, thẩm mỹ và lý do tồn tại của nó.
Văn tế trong các đình, chùa, miếu mạo của Bà Rịa - Vũng Tàu thể hiện khá sâu sắc, phong phú và đa dạng cả về nội dung và hình thức của thể loại văn tế nói chung. Chẳng những thấy rõ qua hàng chục bài văn tế bày tỏ sự tôn kính và lòng biết ơn chân thành, đối với công đức của các vị thần với một giọng văn thật kính cẩn, trang nghiêm. Mà còn không thiếu những bài văn tế bộc lộ sự tiếc thương thống thiết đối với những số phận lạc loài, bạc phận, chẳng hạn như Văn tế cúng cô hồn tiết Thanh minh hoặc Lệ cúng Tiết Thanh minh và Hàn thực, Văn khấn rước cô hồn nơi ngã ba đường. Nổi bật qua hàng loạt bài văn tế đủ loại, từ Văn khấn lễ hết năm, Văn khấn lễ tạ yên, Văn tạ nhân dịp sơn phết tượng và khám thờ, Cầu nguyện nơi miếu xã... đến Văn khấn ngày lễ Thiên Hậu rồi Văn khấn Quan Công.v.v... Chẳng những đều thấy rõ thế giới tâm linh mà còn nhận biết được cuộc sống, đạo lý làm người và ước vọng của người xưa. Tất cả hòa quyện vào nhau mà tạo nên diện mạo, sắc thái và linh hồn của thời đại đã qua.
Tương ứng với những nội dung được trình bày trong các bài văn tế, dù ngắn chỉ vài câu, là một kiểu kết cấu rất phổ biến : Trước hết là tôn vinh, định vị, ca ngợi công đức của một ông thần cụ thể, tiếp theo là cảm thán, bày tỏ lòng thành, sau rốt là cầu mong, ước nguyện. Sự cầu nguyện thường xoay quanh nội dung xin các thần giúp cho gió thuận mưa hòa, thôn xóm được mùa yên ổn, ruộng vườn sung túc, vật ổn người yên, phong thuần tục mỹ, trẻ già khang kiện lâu bền, xóm làng khang thái... Những bài văn tế ngắn thường trang trọng, dung dị. Cạnh đó là những bài Văn tế cúng cô hồn, kẻ bất hạnh, từ Vong hồn chết trận đến gái giang hồ, người cô quả, kẻ độc thân những ai hùm tha, sấu bắt những kẻ xin ăn khắp xóm cùng làng hay sa giếng sụp hầm...
Không ít bài văn tế chẳng những tràn đầy giá trị nhân văn, gợi mở nhiều điều về thế thái nhân tình, kỷ cương phép tắc. Đọc lên vừa thỏa mãn nhu cầu tình cảm, vừa tìm thấy nhiều điều bổ ích, văn chương chữ nghĩa cũng khá mực thước. Chẳng hạn như Văn tế khấn ngày lễ Thiên Hậu, Văn khấn Quan Công, Văn tế cúng cô hồn tiết Thanh minh (đình Phước Hải).
Cũng như văn tế nói chung, văn tế của Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng là một thể loại nổi bật giá trị văn học so với các thể loại khác như sắc thần, hoành phi, thậm chí cả câu đối. Nhưng rất tiếc, khác với câu đối, hoành phi, văn tế cũng như sắc thần không được khắc chạm trên những chất liệu có thể chống chọi lâu dài với sự tàn phá của thời gian như gỗ, đá... nên đã mất mát nhiều.
5. Văn bia: Ngoài các thể loại như câu đối, hoành phi, sắc thần và văn tế như đã giới thiệu ở trên, chùa Long Bàn còn có bài văn bia khắc năm 1888. Trong danh sách các chức sắc cúng tiền trùng tu chùa Long Bàn có 20 người phụ nữ . Đương nhiên những phụ nữ này không phải tham gia công tác quản lý làng xã trong một thời điểm nhất định. Bởi vì theo phong tục tập quán của làng xã Nam Bộ, tên tuổi một người thường được gọi kèm với chức sắc cả khi họ không còn đảm nhận công việc nữa. Chẳng hạn chức Trùm (Xã trưởng) chỉ được gọi trước năm Minh Mệnh thứ 4 (1823). Như vậy là từ đầu thế kỷ XIX ở Bà Rịa - Vũng Tàu đã có phụ nữ làm Xã trưởng và Bang trưởng (người Hoa), ngoài ra còn có khá nhiều phụ nữ tham gia tất cả mọi chức sắc như nam giới trong làng xã Nam Bộ.
Cùng với việc gìn giữ, tu bổ và phát huy tác dụng các di sản văn hoá hữu thể như đền, chùa, miếu mạo ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Những di sản văn hoá vô thể như hoành phi, sắc thần, câu đối, văn tế... cũng cần được sưu tầm đầy đủ, nghiên cứu một cách thấu đáo. Rồi tìm cách quảng bá chúng một cách có hiệu quả, thì chẳng những góp phần không nhỏ trong việc nâng cao truyền thống văn hoá của Bà Rịa - Vũng Tàu, mà còn là một đóng góp đáng kể đối với việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc nói chung.
QUANG  MINH
(Bảo Tàng BRVT)


print   Email   Top


Các tin khác:
Họa tiết Tứ linh trên bệ cặp ngà voi tại di tích Bạch Dinh (13-03-2012)
Kiến trúc cổ dân gian trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân xứ Mô Xoài (29-02-2012)
Văn hóa phi vật thể trong di tích Bà Rịa - Vũng Tàu (02-10-2011)
Di Sản Hán - Nôm Bà Rịa Vũng Tàu (30-09-2011)
Tín nghưỡng thờ thần nữ ở Bà Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Tín ngưỡng người Hoa tại Bà Rịa - Vũng Tàu (30-09-2011)
Tục thờ cúng cá Ông ở Bà Rịa - Vũng Tàu (20-11-2013)
Hình tượng con số 7 trong chuyện kể của người Mạ, Chơro (30-09-2011)

 
Tiêu điểm & Sự kiện
  Giáo dục về nguồn - 2009

  Di tích lịch sử văn hoá núi Dinh

  Hải Đăng Vũng Tàu

  Lễ hội Dinh Cô

  Khảo cổ học BR-VT: Tìm về quá khứ
 
 
Thống kê truy cập
5.329.871